Web Tác giả Trần Xuân An

 

ĐỂ CHÚNG TA CÙNG ĐỘNG NĂO VÀ ĐỂ RỘNG ĐƯỜNG CÔNG LUẬN,
WEBTGTXA. MẠN PHÉP DẪN CÁC ĐƯỜNG NỐI KẾT ĐẾN MỘT SỐ BÀI VIẾT GẦN ĐÂY TRÊN BÁO CHÍ

Trong và sau cuộc hội thảo sử học về “Các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn” (10-‘’08) vừa qua, có rất nhiều ư kiến đồng t́nh, nhất trí nhưng cũng có những tiếng nói phản đối. Trân trọng kính mời quư người đọc xem những bài viết ấy, trong khi cùng tất cả mọi người suy nghĩ, góp ư về “Dự kiến sửa đổi sách giáo khoa”, một yêu cầu bức thiết của toàn xă hội:

Đột phá trong nhận thức về chúa Nguyễn, triều Nguyễn
GS. Phan Huy Lê trả lời phỏng vấn
Việt Nam - net: 21:26′ 16/10/2008 (GMT+7)
http://www.vietnamnet.vn/vanhoa/2008/10/808823/

GS. Tương Lai: Lựa chọn văn hóa, giải quyết “bi kịch” sử
Tuần Việt Nam: 17/10/2008 08:57 (GMT + 7)
http://week.vietnamnet.vn/vn/sukiennonghomnay/5083/index.aspx

Chuyển đổi cơ bản hay là…

Dương Trung Quốc

Việt Nam – net: 02:39' 27/10/2008 (GMT+7)

http://www.vietnamnet.vn/thuhanoi/2008/10/810337/

 

Lẽ phải và ḷng người

Dương Trung Quốc

Việt Nam – net: 03:15' 30/10/2008 (GMT+7)

http://www.vietnamnet.vn/thuhanoi/2008/10/810920/

Đột phá hay chạy tội
Vũ Hạnh – Dương Linh
Công An TP.HCM.: Thứ ba , 16/12/2008, 10:50
…3333/home/van_de_hom_nay/2008/12/20081215.83949.html

Đột phá hay chạy tội (tiếp theo)
Vũ Hạnh – Dương Linh
Thứ năm , 18/12/2008, 00:46
…3333/home/van_de_hom_nay/2008/12/20081217.00850.html

Và một bài khác, về một phân số xă hội khá lớn Miền Nam sau ngày 30-4-1975 (tương tự như ở Miền Bắc sau ngày 20-7-1954):

Chiến thắng này là của toàn dân
SGGP:: Cập nhật ngày 29/04/2007 lúc 01:11′(GMT+7)
Vũ Hạnh – Dương Linh
http://www.sggp.org.vn/chinhtri/2007/4/97289/

 

____________________

 

Đột phá trong nhận thức về chúa Nguyễn, triều Nguyễn

GS. Phan Huy Lê trả lời phỏng vấn

Việt Nam -  net: 21:26' 16/10/2008 (GMT+7)

http://www.vietnamnet.vn/vanhoa/2008/10/808823/

Đi sâu vào thời kỳ Nguyễn c̣n nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu thảo luận, nhưng quan điểm trong hội thảo này sẽ xích lại gần nhau qua không khí học thuật tự do, tranh luận cởi mở, để qua cọ xát sẽ tiếp cận sự thật trung thực nhất.

Đến giờ chúng ta mới tổ chức hội thảo để nh́n nhận, đánh giá lại một thời kỳ lịch sử đă bị ứng xử không công bằng, liệu có muộn không? Nhất là khi, rất nhiều thế hệ học sinh, sinh viên đă học qua SGK và có cái nh́n lệch lạc, một chiều về các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn?

- Nói chậm th́ cũng đúng, v́ quan điểm phê phán thời kỳ chúa Nguyễn, nhà Nguyễn gần như trở thành quan điểm chính thống. Quan điểm này xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1954, đỉnh cao là năm 1960 - 1962, từ đó thành quan điểm ảnh hưởng đến tất cả những công tŕnh nghiên cứu, kể cả sách giáo khoa phổ thông cũng như đại học, dù không có sự chỉ đạo cụ thể nào như thế, nhưng một số cuốn sách được xem là chính thống đưa ra quan điểm đó và nhiều người cứ hướng theo.

Quan điểm này có bối cảnh khách quan, h́nh thành trong thời kỳ chiến tranh, khi mục tiêu sống c̣n là dành độc lập và thống nhất tổ quốc. Bối cảnh chính trị đó tác động mạnh đến nhận thức của giới Sử học, nhưng bản thân giới sử học cũng phải chịu trách nhiệm về mặt phương pháp luận.

Đứng về mặt thời gian là chậm, nhưng trong cái chậm đó có những lư do của nó. Trong suốt thời gian từ 1990 trở về đây có rất nhiều công tŕnh nghiên cứu, trên dưới 20 hội thảo về vấn đề này, nhưng chưa có quy mô quốc gia mà mới là những hội thảo cấp trường ĐH (ĐH Huế, ĐH Sư phạm TPHCM, ĐH Sư phạm Hà Nội), cấp Viện hay Trung tâm nghiên cứu. Những hội thảo đó về chủ đề th́ chưa tập trung, hoặc chưa đi cả thời kỳ dài, mà thường đi vào một phương diện nào đó, như thảo luận riêng về t́nh h́nh bảo tồn di sản văn hóa, t́nh h́nh kinh tế và bộ máy quản lư hành chính...

Có những cuộc hội thảo quan điểm xung đột khá gay gắt (nhất là thời kỳ đầu), nhưng tiếng nói của những kết quả nghiên cứu mới ngày càng thu hút sự quan tâm của giới khoa học và đă góp phần tạo nên một xu hướng mới trong nhận thức. Hy vọng hội thảo này gây được chuyển biến khá căn bản trong nhận thức đánh giá, cả về mặt công tích lẫn hạn chế về thời kỳ chúa Nguyễn và triều Nguyễn. Đứng về phương diện khoa học th́ đây là thời điểm chín mùi cho cuộc hội thảo tầm quốc gia, v́ đă có quá tŕnh chuẩn bị, vài thập kỷ nghiên cứu, để trên cơ sở các thành quả đó, đi tới nh́n nhận có tính chất tổng hợp, hệ thống trên một số vấn đề cơ bản, c̣n dĩ nhiên một số vấn đề cụ thể c̣n phải tiếp tục thảo luận, nhưng có định hướng chung.

Nghĩa là, ta chính thức thừa nhận quan điểm phê phán và phủ định trước đây là không khách quan?

- Đúng vậy, ta có thể nh́n thấy những thành tựu rất rơ ràng và to lớn của chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn, của cả thời kỳ lịch sử trên ba thế kỷ đó để lại. Ví dụ như mở rộng lănh thổ vào tận đồng bằng sông Cửu Long, xác lập chủ quyền trên vùng đất mới, rồi trên cơ sở đó đi tới thống nhất quốc gia trên một lănh thổ rộng lớn tương ứng với lănh thổ Việt Nam hiện đại, bao gồm cả đất liền và hải đảo. Xác lập lănh thổ hiện đại là mốc cực kỳ quan trọng trong lịch sử mỗi quốc gia – dân tộc. 

Hay những thành tựu văn hóa của thời Nguyễn cũng là một cống hiến to lớn. Có tới ba di sản văn hóa được UNESCO công nhận có giá trị toàn cầu thuộc về thời kỳ này: Cố đô Huế, Hội An và Nhă nhạc cung đ́nh Huế. Cố đô Huế tuy thời gian tồn tại chỉ từ 1802 - 1945, trước đó là Phú Xuân của chúa Nguyễn, Phú Xuân của Tây Sơn, nhưng về phương diện khác đây là trung tâm chính trị, văn hóa, quyền lực của một nhà nước Việt Nam thống nhất từ Bắc đến Nam, phản ánh được bước phát triển cao hơn của lănh thổ quốc gia, quy tụ được các giá trị văn hóa của cả lănh thổ rộng lớn. Hội An cũng là sản phẩm của thời kỳ này, thuộc loại h́nh thương cảng, trung tâm kinh tế, mậu dịch đối ngoại, giao lưu quốc tế trong thời kỳ hội nhập mạnh.

Chưa có Quốc sử quán nào hoạt động hiệu quả như triều Nguyễn, để lại cho ta một di sản cực kỳ đồ sộ. Di sản văn hóa chữ viết của thời kỳ này vô cùng phong phú với khối lượng lớn các bộ quốc sử, địa chí, hội điển, văn bia, châu bản, địa bạ, gia phả... Một phần rất quan trọng nữa là các di sản văn hóa vật thể không những của thời kỳ này mà của cả thời đại  trước đều được bảo tồn, trùng tu vào thời Nguyễn, kể cả những di sản lâu đời (có từ thời Lư đến Hậu Lê) như chùa Một Cột, chùa Trấn Quốc, chùa Dâu... nhờ đó lưu giữ được nhiều di sản trước Nguyễn.

Tất nhiên đi sâu vào thời kỳ Nguyễn c̣n nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu thảo luận, nhưng quan điểm trong hội thảo này sẽ xích lại gần nhau qua không khí học thuật tự do, tranh luận cởi mở, để qua cọ xát sẽ tiếp cận sự thật trung thực nhất. Ví dụ như công lao thống nhất đất nước là của nhà Nguyễn nhưng c̣n có vai tṛ của Tây Sơn?

Trước đây có hai xu hướng đối nghịch nhau, có lúc nh́n nhận tất cả công lao cho Tây Sơn, sau lại phủ nhận Tây Sơn, ghi hết công lao cho nhà Nguyễn. Cả hai quan điểm cục đoan đều không đúng, v́ lịch sử là sự tiếp nối và phát triển trong mâu thuẫn và có lúc có vẻ như nghịch lư.

C̣n những hạn chế của vương triều Nguyễn th́ sao, thưa GS? Nguyễn Ánh có tội hay không, khi đưa quân Xiêm vào để chống lại nhà Tây Sơn? Hay vua Tự Đức có bán nước?

- Đúng là trong cuộc đấu tranh chống Tây Sơn, Nguyễn Ánh đă đưa quân Xiêm vào. Trước đây có quan điểm cực đoan gọi đây là hành động "cơng rắn cắn gà nhà", là "bán nước". Đúng là không thể biện hộ cho hành động "không sáng" này, cũng có thể coi là một t́ vết trong sự nghiệp của Nguyễn Ánh, nhưng phải nh́n nhận công bằng. Trong những cuộc đấu tranh bên trong quyết liệt, việc nhờ đến ngoại viện là chuyện thường xảy ra  trong lịch sử. Nhưng điều quan trọng nhất là người cầu ngoại viện phải giữ được độc lập chủ quyền của dân tộc, đưa lại lợi ích cho đất nước, c̣n nếu cầu ngoại viện mà bất lực để mất nước th́ có tội lớn.

Trong t́nh thế của Nguyễn Ánh lúc đó, bị đánh bật khỏi đất Gia Định, lưu vong, nên phải nhờ ngoại viện để chống Tây Sơn. Có thực tế là thế lực Nguyễn Ánh yếu, không kiềm chế nổi quân Xiêm, chính ông đă có lúc than thở: Ta đưa quân Xiêm vào thế này, giờ nó cướp bóc giết hại nhân dân, nhân dân oán thán như vậy, ta được nước c̣n có nghĩa ǵ? Cũng có thực tế nữa là quân Xiêm đă bị quân Tây Sơn đánh tan trong trận Rạch Gầm - Xoài Mút. Nhưng người ta có thể suy luận rằng, nếu quân Xiêm không bị Tây Sơn đánh bại, th́ chắc ǵ Nguyễn Ánh đă kiềm chế được quân Xiêm, nhất là đặt trong tham vọng của vương triều Xiêm lúc bấy giờ đang muốn khống chế cả Chân Lạp và Gia Định. Hành động của Nguyễn Ánh cần phân tích và đánh giá một cách công minh.

Một vấn đề nữa cũng phải thảo luận, là việc nhà Nguyễn (thời Tự Đức) để mất nước trước cuộc xâm lăng của đế quốc Pháp. Kết luận trước đây cho rằng Tự Đức bạc nhược đầu hàng, phản bội dân tộc là chưa thỏa đáng, chưa khách quan. Ông và triều Nguyễn đă t́m mọi cách bảo vệ đất nước và cũng là bảo vệ vương triều đến cùng, nhưng do năng lực và nhăn quan chính trị nên không đề ra được đối sách đúng để giành thắng lợi trước một thế lực xâm lược hoàn toàn mới, mà lịch sử trước đây chưa để lại kinh nghiệm.

Trong cả khu vực Đông Nam Á và Đông Á, tất cả các quốc gia đều mất nước, hoặc thành thuộc địa, hoặc thành nửa thuộc địa. Chỉ riêng Nhật Bản và Thái Lan giữ được độc lập. Nhật Bản thời Minh Trị thực hiện cuộc cải cách lớn, nhưng t́nh h́nh kinh tế xă hội của Nhật có khác các nước phương Đông, bắt đầu từ TK XVII khi đóng cửa với bên ngoài nhưng bên trong phát triển kinh tế rất mạnh, tạo lập những tiền đề cho cuộc cải cách.

Thái Lan th́ có cách ứng xử rất khôn ngoan, tận dụng được vị thế vùng đệm nằm giữa 2 thế lực đế quốc rất mạnh, Anh ở phía Ấn Độ, Pháp ở phía Đông Dương, lợi dụng được mâu thuẫn và cạnh tranh gay gắt này để duy tŕ thế độc lập tương đối, thực hiện được đường lối mềm mỏng trong bảo vệ chủ quyền quốc gia, tuy cũng có lúc phải chấp nhận sự lệ thuộc nào đó với thế lực đế quốc này hay đế quốc khác nhưng không bị mất nước. Vương triều Thái Lan sau đó cũng cải cách khá mạnh, duy tŕ chế độ quân chủ nhưng đi vào khuynh hướng phát triển tư bản chủ nghĩa khá sớm. Chỉ hai quốc gia đó thoát khỏi sự xâm chiếm và thống trị của đế quốc phương Tây.

Chúng ta cần có cái nh́n so sánh để làm sáng rơ hơn nguyên do mất nước cuối thế kỷ XIX. Nghĩa là, trong việc mất nước cuối TK XIX không thể phủ nhận trách nhiệm của triều Nguyễn là nhà nước quản lư đất nước, nhưng lúc phân tích nguyên nhân mất nước th́ phải hết sức khách quan, toàn diện, đặt trong bối cảnh lịch sử mới của khu vực và thế giới, không nên quy kết một cách giản đơn.

Có xu hướng nh́n nhận rằng nhà Nguyễn không "mặn mà" với canh tân, đi ngược lại xu thế của thời đại th́ sao, thưa GS?

- Nhiều nhà sử học đă đặt ra vấn đề này, và cách giải thích, phân tích, đánh giá cũng c̣n có sự khác biệt. Trong bối cảnh mới của thời đại th́ canh tân là nhu cầu rất bức xúc. Chế độ nhà Nguyễn vẫn là quân chủ, trên hệ tư tưởng Nho giáo, kinh tế xă hội vẫn mang tính tiền tư bản – tiền công nghiệp, nên trên b́nh diện phát triển của thời đại đă bộc lộ sự chậm tiến, nếu không canh tân th́ không đưa đất nước vượt ra khỏi t́nh trạng lỗi thời, không đủ tiềm lực để tồn tại độc lập. Canh tân thành nhu cầu quyết định sự tồn vong của đất nước, nhất là khi phải đầu đương đầu với một thế lực xâm lược hoàn toàn mới đến từ các đế quốc phương Tây ở tŕnh độ chủ nghĩa tư bản và văn minh công nghiệp cao hơn hẳn ta.

Trong những đề nghị cải cách thời nhà Nguyễn cần phân biệt làm hai loại. Một loạt cải cách trên nền tảng không có ǵ đụng chạm tới kết cấu kinh tế xă hội đương thời, như khai hoang, làm thủy lợi, chẩn cứu dân nghèo... nghĩa là một số sửa đổi trên nền tảng bảo tồn của chế độ phong kiến, rất cần thiết nhưng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mới của đất nước phù hợp với xu thế của thời đại..

Có những đề xuất canh tân vượt quá tầm nh́n trên, vươn tới sự phát triển cao của thời đại, tập trung chủ yếu thời Tự Đức, như những điều trần của Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Đặng Huy Trứ, ba nhà cải cách có hệ thống nhất. Những cải cách đó không phủ định triều Nguyễn, chưa đụng chạm đến sự tồn tại của chế độ quân chủ, những người đề xuất cải cách đều trung thành với vương triều Nguyễn. Họ đề nghị mở cửa thông thưong, học tập công nghệ phương Tây, phát triển công thương nghiệp, cải cách giáo dục, củng cố quốc pḥng...Những đề nghị canh tân đó sẽ tạo nên những chuyển biến về kinh tế xă hội để đưa đất nước vượt qua t́nh trạng lạc hậu và mở ra xu thế phát triển mới. Nhưng rất tiếc những đề nghị đó không được chấp nhận.

Trong các vua nhà Nguyễn, người có ư tưởng canh tân tương đối sớm với những suy tư về t́nh h́nh trong nước và cả tầm nh́n khu vực là Minh Mạng. Ông gửi nhiều phái đoàn ra ngoài, lư do là để mua hàng hóa, nhưng những nơi tới đều là căn cứ thương mại - quân sự của phương Tây. Ông có tầm nh́n hướng biển, có những thử nghiệm thành công  kỹ thuật phương Tây như đóng tàu chạy hơi nước, dịch nhiều sách kỹ thuật phương Tây ra chữ Hán, mua vũ khí, củng cố hệ thống thành lũy... , rất chú ư đến việc pḥng vệ ven biển. Đó là tầm nh́n chiến lược, nhưng Minh Mạng mới có những ư tưởng chứ chưa cụ thể hóa thành chủ trương biện pháp có hệ thống và chưa tập hợp được trong triều những người có đầu óc canh tân nên chưa thể biến ư tưởng thành hiện thực.

C̣n những vấn đề khác nữa cũng sẽ được đề cập trong hội thảo, nhưng thời gian không cho phép đi sâu, chẳng hạn như về vai tṛ Nho giáo trong bối cảnh TK 19 th́ đánh giá thế nào? Hay việc nhà Nguyễn có những thành tựu trong việc thống nhất đất nước, cải cách bộ máy hành chính tiến bộ,... nhưng lại không thu phục được ḷng dân, t́nh h́nh xă hội bất ổn định triền miên, khởi nghĩa nông dân nhiều nhất so với các thời kỳ trước đây... Hay chính sách của nhà Nguyễn với tôn giáo thế nào? C̣n rất nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.

Hội thảo này không tham vọng giải quyết quá nhiều vấn đề, mà tập trung vào những vấn đề lớn để tạo sự chuyển biến trong nhận thức và đánh giá một cách khách quan với chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn, c̣n những vấn đề khác sẽ tiếp tục nghiên cứu và thảo luận.

So với thời vương triều Nguyễn đang cần sự định hướng lại, thời kỳ chúa Nguyễn có vẻ ít được quan tâm hơn? Tư liệu về các chúa Nguyễn dường như khuyết thiếu?

- Thật ra thời kỳ này rất quan trọng. Lănh thổ nước ta trước thời các chúa Nguyễn mới đến dinh Quảng Nam (đơn vị hành chính rộng gồm từ Quảng Nam, Quảng Ngăi, B́nh Định vào đến Bắc Phú Yên), giữa thế kỷ 16 chúa Nguyễn Hoàng tập trung khai phá vùng đất Thuận Quảng cho sự tồn tại của chính quyền mới, vừa lo đối phó với Trịnh ở Đàng Ngoài. Công cuộc mở rộng vào đồng bằng sông Cửu Long được đẩy mạnh trong TK XVII, đầu TK XVIII, đến giữa thế kỷ XVIII th́ đến toàn bộ vùng đất Nam Bộ hiện nay, xác lập chủ quyền trên vùng đất mới. Những chúa Nguyễn như Nguyễn Hoàng, Nguyễn Phúc Nguyên, Nguyễn Phúc Lan, Nguyễn Phúc Tần, Nguyễn Phúc Thái, Nguyễn Phúc Chu... tư tưởng không bị Nho giáo ảnh hưởng nặng nề, nên mang tính thực tế, cởi mở, khai phóng, cái ǵ có lợi cho xứ sở, cho sự tồn tại và phát triển của vương triều th́ thực thi ngay, không bị ràng buộc. 

Tôi lấy một ví dụ. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên chủ trương mở cửa giao thương với nước ngoài, thu hút các thuyền buôn, các công ty tư bản phương Tây đến buôn bán. Thương cảng hội An (Quảng Nam) ra đời trong bối cảnh đó. Tại đây chính quyền chúa Nguyễn cho phép người nước ngoài cư trú lâu dài, lập phố xá, thương điếm, làm ăn và chung sống với cư dân tại chỗ. Điều cần nêu lên là cho phép người Nhật, người Hoa sống thành hai khu phố riêng với tính tự quản khá cao, mỗi khu phố có trưởng khu do người nước ngoài cử ra, họ được quản lư khu phố và phải hoàn thành nhiệm vụ với nhà nước (chủ yếu là thuế), cư dân nước ngoài trong khu phố được sống theo phong tục, tập quán, lối sống…. như tại quê hương.

Nước ta thời phong kiến không có thành thị tự do mà ở đó tần lớp thị dân giữ vai tṛ quản lư đô thị, nhưng mức độ tự quản mà chúa Nguyễn dành cho cư dân nước ngoài tại đô thị biểu thị thái độ cởi mở và tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động thương mại cũng như đời sóng của cộng đồng cư dân nước ngoài, từ đó tạo nên sức cuốn hút thương gia ngoại quốc, thúc đẩy sự phát triển nhanh của các cảng thị Đàng trong. 

Trước đây việc nghiên cứu với thời kỳ chúa Nguyễn chưa nhiều, nhưng trong vài thập kỷ gần đây đă có nhiều công tŕnh nghiên cứu có giá trị trên nhiều phương diện, ở trong nước và cả ở nước ngoài, đặc biệt công việc nghiên cứu vùng đất Nam Bộ đưọc giới khoa học rất quan tâm. Và dĩ nhiên nghiên cứu Nam Bộ th́ phải đi sâu vào thời kỳ khai phá, mở mang bờ cơi, xác lập chủ quyền thời các chúa Nguyễn và triều Nguyễn.

Liệu ta có chấm dứt được cách nh́n nhận lịch sử theo góc nh́n chính trị? C̣n nhiều nhân vật, nhiều triều đại khác phải nh́n nhận lại?

- Giờ th́ không ai ép buộc, nhưng có "chính trị hóa" hay không th́ tùy thuộc vào bản lĩnh và năng lực của các nhà khoa học, có thể giữ vai tṛ chủ động trong sáng tạo khoa học, và chính những kết quả nghiên cứu khoa học bảo đảm tính khách quan và chân xác đó là cơ sở khoa học đáng tin cậy để nhà quản lư đưa ra các chủ trương và giải pháp chính trị cũng như kinh tế, văn hóa, xă hội hữu hiệu nhất. Đấy mới là mới quan hệ đúng đắn giữa khoa học và chính trị.

Sử học là quá tŕnh nhận thức lại lịch sử, vấn đề này chưa xong th́ vấn đề khác đặt ra, thời gian vừa qua, không chỉ thời kỳ chúa Nguyễn và triều Nguyễn mà cả thời kỳ nhà Hồ, thời nhà Mạc.. đều được nh́n nhận và đánh giá lại một cách khách quan hơn. Đối với thời kỳ chúa Nguyễn và triều Nguyễn, ngoài mổt số vấn đề cơ bản liên quan đến định hướng nhận thức chung, c̣n rất nhiều vần đề cần tiếp tục đặt ra và tiếp tục công việc nghiên cứu, thảo luận... GS có hy vọng, hội thảo lần này sẽ thay đổi định hướng chung cho cách nh́n nhận, đánh giá lịch sử? Tại hội thảo quốc gia này, hiện đă có 91 báo cáo khoa học (trong đó có 8 báo cáo của nước ngoài), quy tụ tất cả những chuyên gia hàng đầu nghiên cứu về thời Nguyễn, đại diện cho giới sử học và một số ngành khoa học liên quan của cả nước, sẽ đưa ra những nhận thức mới và định hướng cho việc nghiên cứu cũng như quảng bá những hiểu biết về thời kỳ lịch sử các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn.

Tôi nghĩ rằng, có những vấn đề có thể đi đến kết luận, nghĩa là đạt được sự đồng thuận cao, có những vấn đề chưa hoàn toàn nhất trí nhưng nhận thức có thể xích lại gần nhau, tạo nên cơ sở chung để tiếp tục nghiên cứu. Từ kết quả hội thảo, các cơ quan chức năng có thể tiếp nhận để đưa ra những chỉ đạo mới trong công việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa thời kỳ này, cũng như điều chỉnh và cập nhật những nội dung liên quan trong SGK lịch sử. Giới sử học cũng từ đây có thể rút ra những kinh nghiệm bổ ích trong nâng cao tŕnh độ lư luận và phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu lịch sử nói chung.

GS có hy vọng, hội thảo lần này sẽ thay đổi định hướng chung cho cách nh́n nhận, đánh giá lịch sử?

- Tại hội thảo quốc gia này, hiện đă có 91 báo cáo khoa học (trong đó có 8 báo cáo của nước ngoài), quy tụ tất cả những chuyên gia hàng đầu nghiên cứu về thời Nguyễn, đại diện cho giới sử học và một số ngành khoa học liên quan của cả nước, sẽ đưa ra những nhận thức mới và định hướng cho việc nghiên cứu cũng như quảng bá những hiểu biết về thời kỳ lịch sử các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn. Tôi nghĩ rằng, có những vấn đề có thể đi đến kết luận, nghĩa là đạt được sự đồng thuận cao, có những vấn đề chưa hoàn toàn nhất trí nhưng nhận thức có thể xích lại gần nhau, tạo nên cơ sở chung để tiếp tục nghiên cứu. Từ kết quả hội thảo, các cơ quan chức năng có thể tiếp nhận để đưa ra những chỉ đạo mới trong công việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa thời kỳ này, cũng như điều chỉnh và cập nhật những nội dung liên quan trong SGK lịch sử. Giới sử học cũng từ đây có thể rút ra những kinh nghiệm bổ ích trong nâng cao tŕnh độ lư luận và phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu lịch sử nói chung.

Xin cảm ơn GS.

  • Khánh Linh (thực hiện

 

Lựa chọn văn hóa, giải quyết "bi kịch" sử

GS. Tương Lai

Tuần Việt Nam: 17/10/2008 08:57 (GMT + 7)

http://week.vietnamnet.vn/vn/sukiennonghomnay/5083/index.aspx

Một khi cái giả biến thành cái thật, được đem rao giảng cho thế hệ trẻ th́ khác nào chất axít gậm nhấm tâm hồn họ. Sự thật lịch sử bị vùi lấp, xuyên tạc bởi bất kỳ lư do ǵ cũng làm giảm sút, nao núng ḷng tin, ḷng tự hào về lịch sử dân tộc của lớp trẻ - chất ximăng kết dính những tâm hồn Việt Nam. Nh́n lại lịch sử triều Nguyễn chính là cách Việt Nam nâng cao bản lĩnh dân tộc - GS. Tương Lai

Nh́n lại chuyện học môn lịch sử ở nước ta

“Lịch sử là một thành phần mà thiếu nó th́ không một ư thức dân tộc nào đứng vững được” (Fernand Braudel). Chính v́ thế, hiểu biết sâu sắc về lịch sử đất nước ḿnh, tự hào về những trang sử vẻ vang của dân tộc ḿnh là nền tảng cơ bản để h́nh thành ḷng yêu nước, một phẩm chất đặc biệt và cũng là một động lực lớn lao của con người Việt Nam qua mọi thời đại.

V́ thế, “môn lịch sử giữ vai tṛ quan trọng bậc nhất trong giáo dục chủ nghĩa yêu nước, các giá trị truyền thống và cách mạng, góp phần xây dựng nhân cách, bản lĩnh con người, giữ ǵn bản sắc dân tộc” như sự khẳng định của Đại tướng Vơ Nguyên Giáp, Chủ tịch danh dự của Hội khoa học lịch sử Việt Nam trong thư gửi “Hội thảo bàn về thực trạng dạy và học sử” cách đây hai năm khi xă hội rung chuông báo động về việc học sinh đang chán học môn sử, điểm thi môn sử quá kém. 

Đă có nhiều phân tích sâu sắc, trong đó, sự phê phán tập trung vào Bộ GD&ĐT. Chuyện ấy không oan tí nào. Song, nếu chỉ đổ hoàn toàn cho Bộ GD&ĐT th́ liệu có thể giải quyết tận gốc vấn đề học sinh không thích học môn lịch sử không? Sách giáo khoa lịch sử có nhiều vấn đề, điều ấy Bộ GD&ĐT phải chịu trách nhiệm, thế c̣n những công tŕnh nghiên cứu lịch sử chất lượng kém th́ do ai chịu trách nhiệm? Chất lượng của công tŕnh nghiên cứu lịch sử đă được xuất bản là điểm tựa để đảm báo tính chính xác khoa học của sách giáo khoa lịch sử, là sức hấp dẫn người soạn sách giáo khoa lịch sử. Khi chất lượng ấy có vấn đề th́ trách nhiệm thuộc về ai?

Ai chỉ đạo xây dựng những công tŕnh đó, tŕnh độ khoa học và bản lĩnh của nhà sử học có ảnh hưởng ǵ đến chất lượng công tŕnh lịch sử nước nhà hay không? Không thể đặt bộ môn lịch sử riêng rẽ trong hệ thống kiến thức khoa học mà thế hệ trẻ cần được giáo dục, khi mà một quan điểm chính thống đă được áp đặt vào việc nghiên cứu và xuất bản các công tŕnh nghiên cứu lịch sử và biên soạn các sách giáo khoa lịch sử th́ cho dù có không ít những ư kiến không đồng t́nh cũng không thể xoay chuyển được t́nh thế chung.

Ấy thế mà vấn đề viết sách giáo khoa lịch sử không chỉ nhận được sự quan tâm tán thành hay phản đối về nội dung, sự kiện và quan điểm của công chúng trong nước, mà có khi lại là một cuộc đấu tranh ngoại giao phức tạp giữa các quốc gia từng có những mối quan hệ lịch sử. Chuyện Hàn Quốc phản đối một số nội dung được đưa vào sách giáo khoa lịch sử của Nhật là một ví dụ.

Và cũng đừng quên rằng, hiện nay vẫn đang diễn ra t́nh trạng in và lưu hành công khai những xuyên tạc lịch sử nhằm vào những mưu đồ đen tối mà chúng ta không thể không cảnh giác phát hiện và đấu tranh. Chỉ có thể hiểu sâu những điều này khi đặt những công tŕnh nghiên cứu lịch sử và sách giáo khoa lịch sử trong hệ thống các khoa học xă hội và nhân văn, và hệ thống ấy nằm trong nền văn hóa dân tộc.

Lịch sử và tầng sâu văn hóa của một dân tộc

Chỉ khi chúng ta suy ngẫm và hiểu ra được về những ǵ đă hun đúc nên văn hoá Việt Nam, h́nh thành cốt cách con người Việt Nam, chúng ta mới hiểu rơ bộ môn khoa học lịch sử giữ một vị trí quyết định như thế nào trong nền văn hóa ấy.

Bởi lẽ, văn hoá không phải là một hệ thống đóng kín những giá trị loại biệt mà là một tổng hợp đang phát triển của các thành tựu vật chất và tinh thần của một dân tộc. Văn hóa là một cấu trúc có bề sâu. Cuộc sống xă hội được phản chiếu ở bề mặt, dưới bề mặt đó, văn hóa được phân chia theo những tầng khác nhau, thường tiềm ẩn và vô thức. Ở độ sâu này, ta thấy có một sự sắp xếp của các quy tắc văn hóa điều chỉnh bề mặt ở bên trên.

Nói đến “sức mạnh văn hoá”, “bản lĩnh văn hoá”, “bản sắc văn hoá”, chính là nói đến sự tiềm ẩn và vô thức này nằm ch́m trong đời sống của dân tộc. Chính cái đó làm nên ư thức dân tộc, tạo ra sức mạnh Việt Nam, ư thức và sức mạnh làm cho đất nước này, dân tộc này tồn tại và phát triển. Đúng là: lịch sử là một thành phần mà thiếu nó th́ không một ư thức dân tộc nào đứng vững được. Không có ư thức đó th́ không thể có một nền văn hóa dân tộc và cũng chẳng thể nào xây dựng được một xă hội Việt Nam hiện đại và văn minh.

Ḍng chảy lịch sử là bất tận, nó tạo nên sức mạnh bất diệt của một dân tộc. Thế hệ trẻ Việt Nam phải được hiểu kỹ về ḍng chảy bất tận đó, phải được tắm ḿnh vào trong ḍng chảy bất tận đó để tự hào về ông cha ḿnh đă bao đời kiên cường, bất khuất dựng nước, mở nước và giữ nước để trao lại cho thế hệ hôm nay ǵn giữ và phát triển. Không có niềm tự hào về dân tộc, tự hào về nền văn hóa dân tộc sẽ không thể vững tin mà đến với thế giới.

Ở thời đoạn quá tŕnh phát triển và hội nhập đi vào chiều sâu, càng phải nâng cao sự hiểu biết của thế hệ trẻ về lịch sử, hiểu rơ về ông cha ḿnh, thấy ra được chỗ mạnh và chỗ yếu của dân tộc ḿnh. Trên ư nghĩa đó, việc dạy và học lịch sử, những công tŕnh khoa học lịch sử chất lượng cao có tác động lớn đến việc đào luyện con người, con người Việt Nam hôm nay đang phải đối diện với những thách đố chưa từng có.

Tính trung thực lịch sử và bản lĩnh người viết sử 

Một trong những vấn đề quan trọng nhất, cũng có thể nói đó là điều kiện tiên quyết để đảm bảo chất lượng công tŕnh nghiêu cứu lịch sử, điểm tựa để đảm bảo tính chính xác khoa học của sách giáo khoa lịch sử, tiền đề hết sức quyết định của việc cuốn hút, hấp dẫn và có tác động mănh liệt đến t́nh cảm tư tưởng của thế hệ trẻ, giúp vào việc xây dựng nhân cách và bản lĩnh cho thế hệ trẻ, đó là tính trung thực lịch sử.

Một khi mà tính trung thực lịch sử của một số công tŕnh đă đến với đông đảo công chúng chưa cao, điều mà phần lớn những nhà sử học có nhân cách đều biết, song cho đến nay, dường như vấn đề này vẫn chưa được đặt ra một cách ṣng phẳng, nghiêm túc và minh bạch.

Đương nhiên trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, tính chân lư lịch sử sẽ phải được công bố như thế nào c̣n tùy thuộc vào nhiều yếu tố, song dù chưa công bố th́ rồi tính chính xác khoa học của lịch sử sớm muộn cũng phải thể hiện ra.

V́ vậy, cùng với việc nâng cao chất lượng sách giáo khoa lịch sử, nâng cao tŕnh độ dạy sử của người thầy và ư thức đối với việc học sử của học tṛ nhằm bồi dưỡng t́nh cảm yêu nước và tinh thần dân tộc cho thế hệ trẻ, phải đặt ra vấn đề chất lượng khoa học của các công tŕnh nghiên cứu lịch sử mà ở đó, tính trung thực của tác giả công tŕnh nhằm làm sáng tỏ chân lư lịch sử là điều có ư nghĩa rất quyết định.

Liệu có cần nhắc lại ở đây một khuyến cáo của ông Mittrrand “thái độ của giới trẻ với lịch sử là thước đo sự tín nhiệm chính trị với chế độ”. Vị tổng thống đương nhiệm của nước Pháp vào những năm 80 của thế kỷ XX ấy, khi sang thăm Việt Nam, đă đến xem xét tận nơi chiến trường Điện Biên Phủ trước đây, biểu thị một ứng xử văn hóa sâu sắc thể hiện thái độ ṣng phẳng với lịch sử.

Ai cũng có thể hiểu được rằng Điện Biên Phủ đă trở thành một sự kiện lịch sử đánh dấu sự thảm bại của một đế chế thực dân, kéo theo sự sụp đổ hệ thống thuộc địa trên thế giới. Sự kiện lịch sử ấy đă để lại một dấu ấn như thế nào trong lịch sử quân đội Pháp nói riêng và nước Pháp nói chung. Liệu có thể hiểu ứng xử văn hóa ấy của vị Tổng thống Pháp cũng là biểu thị của tính trung thực lịch sử không?

Tính trung thực lịch sử ấy lại càng phải đậm nét trong các công tŕnh nghiên cứu lịch sử mà ở đó, thể hiện tập trung tŕnh độ chuyên sâu và bản lĩnh của nhà sử học. Gợi lên h́nh ảnh trên để khỏi phải nhắc lại chuyện mà hầu như nhà sử học nào cũng biết việc cả ba anh em người viết sử nước Tề dù rơi đầu dưới lưỡi gươm của Thôi Trữ vẫn không chịu sửa một chữ của sự thật lịch sử là “Thôi Trữ giết vua của ḿnh là Trang Công”. Bản lĩnh ấy của người viết sử, của người nghiên cứu và giảng dạy lịch sử là điều xă hội đang trông chờ.

Lựa chọn văn hóa và giải quyết "bi kịch" lịch sử

Phải chăng để đáp ứng sự trông chờ đó mà có Hội thảo khoa học về “chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn” ngày 18 và 19 tháng 10 năm 2008 tại Thanh Hóa - nơi phát tích của nhà Nguyễn - nhân kỷ niệm 450 năm Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa và sau đó là Quảng Nam, mở đầu một thời kỳ phát triển mạnh mẽ của dân tộc.

Đúng như Giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam nhấn mạnh: “việc nh́n nhận, đánh giá lại chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn ngày càng trở thành một nhu cầu, đ̣i hỏi bức thiết, đầu tiên là của giới sử học, sau đó là của tất cả những nhà khoa học xă hội, và trở thành đ̣i hỏi của xă hội ”. V́ rằng, mặc dầu “triều Nguyễn đă để lại một di sản khổng lồ, vĩ đại mà không triều đại nào trong lịch sử có thể sánh được” nhưng ngót một thế kỷ qua, sự thật lịch sử đó đă bị vùi lấp. Đó là một bi kịch lịch sử lớn.

Nguyên nhân của bi kịch ấy có nhiều, song đúng như phân tích của Gs. Phan Huy Lê “về sử học thuần túy, đó là thời kỳ mà nền sử học Macxít đang h́nh thành, nên sự ấu trĩ, giáo điều, công thức buổi đầu là không tránh khỏi”.

Cùng với vấn đề phương pháp luận sử học của các nhà nghiên cứu, cần phải nói thêm là việc tồn tại thói độc quyền tư tưởng, áp đặt tư duy, tùy tiện quy kết của một số người có quyền, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa đă là nguyên nhân trực tiếp và kéo dài khiến cho nhiều sự thật lịch sử đă không được tŕnh bày một cách khách quan, trung thực. Theo cách nói của Phạm Văn Đồng th́ đó là “lấy ḷng mong muốn thay cho thực tế. Trong cách nghĩ và cách làm sai lầm này, điều nguy hiểm nhất là bất chấp quy luật của lịch sử”.

Với sự nghiệp Đổi mới, từ sự đổi mới tư duy về kinh tế mà đổi mới về tư duy nói chung để thấy ra sự phi lư của những quan điểm chính thống “quay lưng lại với bao sự thật hàng ngày diễn ra trước mắt ḿnh để lao vào những sai lầm với những giá đắt phải trả. Rơ ràng đây là một sự thiếu sáng suốt trong nhận thức và hành động, trong lư luận và thực tiễn”. Những quan điểm gọi là chính thống ấy khi áp đặt vào việc biên soạn sách giáo khoa sử học cũng như từng áp đặt cho các công tŕnh nghiên cứu lịch sử th́ “những giá đắt phải trả” là khó mà có thể đo đếm được.

Khi một cái giả biến thành cái thật, được đem rao giảng cho thế hệ trẻ th́ khác nào chất axít gậm nhấm tâm hồn lớp trẻ, làm sao đo đếm được cái chất axít gậm nhấm tâm hồn ấy? Sự thật lịch sử bị vùi lấp, tệ hơn, bị xuyên tạc do nhiều động cơ và nguyên nhân khác nhau, nhưng cho dù bởi bất kỳ lư do ǵ, th́ cũng làm giảm sút hay làm nao núng ḷng tin của lớp trẻ vào những trang lịch sử hào hùng của dân tộc, hun đúc nên ḷng tự hào dân tộc, chất ximăng kết dính những tâm hồn Việt Nam, tạo nên sức mạnh Việt Nam để phấn đấu bứt lên thoát khỏi nổi nhục nghèo nàn và lạc hậu để sánh vai cùng thế giới.

Vả chăng, “văn hóa là nền tảng tinh thần của đời sống xă hội” như Nghị quyết của Đảng đă chỉ rơ th́ lịch sử dân tộc với những khúc tráng ca và bi ca có sức lay động mănh liệt tinh thần và t́nh cảm của con người Việt Nam mọi thời đại có ư nghĩa quyết định đến nền tảng tinh thần ấy.

Đặc biệt là khi mà tiến tŕnh phát triển và hội nhập của đất nước đi vào chiều sâu th́ việc nâng cao bản lĩnh văn hóa có ư nghĩa hết sức quyết định. Bởi lẽ, với tiến tŕnh ấy cần phải nhận thức được rằng “trước hết không phải là chuyện kinh tế mà là chuyện văn hóa, một chuyển động về văn hóa và tư tưởng có khi sâu sắc nhất xưa nay, một thay đổi trong tâm lư dân tộc… đây là sự chọn lựa văn hóa” (Nguyên Ngọc). Sự chọn lựa đó không phải bây giờ mới có. Trong lịch sử đă từng có, ít nhất có thể kể đến hai lần khá tiêu biểu.

Lần thứ nhất là cuối thiên niên kỷ thứ nhất, đầu thiên niên kỷ thứ hai với việc từ bỏ cái gốc Đông Nam Á để tiềp nhận nền văn hóa “Hán hóa”, văn hóa Trung Hoa, nhằm tạo ra một nhà nước mạnh đủ sức chống chọi lại với họa xâm lược đến từ phương Bắc để đến thế kỷ XI, Lư Thường Kiệt có thể dơng dạc tuyên bố “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”, khẳng định ư chí độc lập tự cường của dân tộc ta. Lời khẳng định đó được xem như “Tuyên ngôn độc lập” lần thứ nhất, để dẫn đến “Tuyên ngôn độc lập” lần thứ hai với “Đại cáo b́nh Ngô” của Nguyễn Trăi.

Cuộc chọn lựa khôn ngoan lần thứ hai của Nguyễn Hoàng, đưa đến một đất nước mở rộng với tư duy “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, phi Hán hóa không chỉ về măt văn hóa, tư tưởng mà c̣n với sự lùi xa “cương vực” về phía Nam, từ đèo Hải Vân đến Hà Tiên, h́nh thành một quốc gia lớn mạnh đủ sức cho Quang Trung đại phá quân xâm lược đến từ mọi phía.

Nhân kỷ niệm 450 năm Nguyễn Hoàng mở đầu một thời kỳ phát triển mạnh mẽ của dân tộc, hy vọng rằng “Hội thảo khoa học về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn” sẽ là một dấu ấn đậm nét về một thời kỳ phát triển mới của ngành khoa học lịch sử góp phần nâng cao bản lĩnh văn hóa dân tộc, góp phần củng cố “nền tảng tinh thần của đời sống xă hội”.

GS. Tương Lai

 

Chuyển đổi cơ bản hay là…

 

Dương Trung Quốc

 

Việt Nam – net: 02:39' 27/10/2008 (GMT+7)

 

http://www.vietnamnet.vn/thuhanoi/2008/10/810337/

 

Trong đời sống đương đại đầy thăng trầm và náo động này, có một sự kiện mà “dư âm” của nó c̣n đọng lại trong những ai vốn nặng ḷng với quốc sử. Đó là hội thảo về “Các chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam” mà theo nhà sử học Dương Trung Quốc: Liệu đă có một chuyển đổi cơ bản hay chỉ là sự rộ lên của những nhận thức mới trên một lĩnh vực rất nhạy cảm- sử học. Bài viết này cho Thư Thăng Long- Hà Nội, như tác giả tự nhận “là một thu hoạch nhỏ của một người đă theo dơi và can dự vào một quá tŕnh”…

 

Thời điểm lịch sử và đất Thanh Hoá- “quư hương”

 

Có một yếu tố “tâm linh” về thời điểm cuộc hội thảo này được tổ chức, đó là cách đây đúng bốn thế kỷ rưỡi (450 năm) đă có một sự kiện đặc biệt: Mùa đông năm 1558, vâng mệnh triều đ́nh (nhà Lê) chúa Nguyễn Hoàng vào Nam mở cơi .

 

Thanh Hoá là “quư hương”(vùng đất Hà Trung), nơi hiện có Gia Miêu ngoại trang là quê hương của các chúa, các vua Nguyễn, và rất đông đảo những thế hệ người dân xứ Thanh tham gia vào công cuộc Nam tiến vĩ đại của dân tộc liên tục nhiều thế kỷ tiếp theo...Trên vùng đất này đă từng có một di tích kiến trúc hoành tráng, do chính vị vua khởi triều là Gia Long xây dựng để ghi nhận vùng đất phát tích ra các chúa và triều Nguyễn cũng mới “biến mất” hoàn toàn cách đây đúng ba thập kỷ. 

 

Đó là lư do v́ sao sự đánh giá về các chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn lại diễn ra ở Thanh Hoá, do UBND tỉnh Thanh Hóa chủ động đề nghị Hội Sử học VN phối hợp đồng tổ chức cho dù chúng ta biết rằng nói đến sự nghiệp của các chúa Nguyễn và triều Nguyễn, không thể không nói đến vùng Thuận Hoá, xứ Quảng và lục tỉnh Nam Bộ trong đó Phú Xuân- Huế đă trở thành thủ phủ Đàng Trong và kinh đô của Vương triều Nguyễn cho đến giữa thế kỷ XX (1945) .

 

Sự đánh giá lại của đời sống đương đại dường như cũng đáp ứng ḷng mong mỏi của người dân đất Thanh Hoá- “quư hương”. Họ vẫn tự hào mảnh đất này là nơi sản sinh ra vị vua khai sáng triều Lê (từng đựoc tôn vinh là “vị tổ trung hưng thứ hai” sau Ngô Vương quyền theo đánh giá của Phan Bội Châu).

 

Sự đánh giá công bằng, khách quan của đời sống đương đại sẽ làm sáng tỏ vai tṛ của các chúa Nguyễn, chúa Trịnh và các vị vua triều Nguyễn vốn một thời mang nặng mặc cảm gắn liền với những biến động tiêu cực như chia cắt Đàng Trong-Đàng Ngoài, thù địch và tiêu diệt “cách mạng” Tây Sơn, đàn áp khởi nghiă nông dân và cuối cùng là “cơng rắn cắn gà nhà”, bán nước rồi làm tay sai cho thực dân đô hộ. Bối cảnh chính trị của cuộc cách mạng “phản đế- phản phong” cùng lập trường đấu tranh giai cấp và cải tạo xă hội chủ nghĩa đă kéo dài sự đánh giá một sắc màu tiêu cực về nhà Nguyễn.

 

Lịch sử trung đại đầy bi kịch, ẩn trắc và tất yếu

 

Cái căn cốt nhất của sự đánh giá vị thế các chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn là việc nhận thức lại về một thời kỳ lịch sử mang tính chất bản lề với hai nội dung quan trọng. Đó là sự hoàn thiện lănh thổ và chủ quyền quốc gia, gắn liền với quá tŕnh mở mang bờ cơi (Nam tiến) và xác lập chủ quyền dân tộc, với cả một tầm nh́n lớn ra đại dương của ông cha chúng ta.

 

Những đội Hoàng Sa được các chúa Nguyễn lập, tấm bản đồ “Đại Nam Nhất thống toàn đồ” vẽ dưới thời vua Minh Mạng là những bằng chứng góp phần vào sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lănh thổ.Vai tṛ của các chúa Nguyễn, nhà Tây Sơn và triều Nguyễn cho đến nửa đầu thế kỷ XIX đă để lại một di sản thiêng liêng mà thời đại ngày nay chúng ta đang kế  thừa là không gian lănh thổ của một quốc gia thống nhất. 

 

Đó c̣n là quá tŕnh chuyển tiếp từ xă hội truyền thống sang xă hội hiện đại, đặc biệt, từ nửa cuối thế kỷ XVIII và thế kỷ XIX qua thế kỷ XX. Đây là thời kỳ mà nước Việt chúng ta từng bước thoát dần ra khỏi “thế giới Trung Hoa” truyền thống, tiếp cận và giao thoa với nhiều nền văn hoá ở phía Nam (chịu ảnh hưởng của văn hoá hải đảo Đông Nam Á và Ấn Độ), tiếp xúc với văn minh phương Tây, đương đầu với chủ nghĩa thực dân phương Tây để rồi trở thành thuộc địa của Pháp.

 

Đây cũng chính là giai đoạn lịch sử bi kịch, đầy ẩn trắc. Bên cạnh những yếu tố tiêu cực dễ thấy, kết cục bằng một thời kỳ mất nước, th́ hàng loạt những tác động khách quan vào sự phát triển của dân tộc, nghiễm nhiên như là sự chuẩn bị  từng bước cho công cuộc hội nhập vào trào lưu phát triển của thế giới hiện đại sau này. Trong đó có cả những hệ tư tưởng chính trị hiện đại cũng như các phương thức sản xuất tiến tiến hơn, tạo cơ sở để Việt Nam hội nhập với thế giới ngoài Trung Hoa (đầu thế kỷ XX) cho đến hội nhập với toàn cầu mà thời đại chúng ta đang chứng kiến.

 

Về lư thuyết, sự đánh giá dừng lại ở thế kỷ XIX tức là thời kỳ Việt Nam (Đại Nam) c̣n là một quốc gia tự chủ (v́ triều Nguyến c̣n tồn tại đến 1945). Nó đặt ra một loạt những vấn đề lịch sử hệ trọng như v́ sao chúng ta không có được một cuộc cải tổ như Nhật Bản? Mất nước có phải là một tất yếu?

 

Công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân bên cạnh bản chất một nền cai trị của chủ nghĩa thực dân, có những thúc đẩy sự tiến bộ do tác động của những giá trị của một nền văn minh đang phát huy thế mạnh đối với toàn cầu. Trả lời những vấn đề lịch sử này cũng góp phần đánh giá toàn diện và biện chứng hơn các chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn.

 

Về thực tiễn, rơ ràng, không nghiên cứu và nh́n nhận trên một tinh thần khách quan khoa học giai đoạn lịch sử này, chúng ta không thể nhận thức được chính ḿnh, những di sản mà lịch sử đương đại đang kế thừa hay đang khắc phục. Người ta thường dễ xúc cảm bởi sự công bằng th́ giá trị ấy cũng đang là một nhu cầu của xă hội, v́ một nguyên lư là không công bằng với quá khứ th́ cũng không thể công bằng với hiện tại.

 

Có phải là sự đột phá trong nhận thức lịch sử?

 

“Lịch sử diễn ra một lần c̣n nhận thức lịch sử là một quá tŕnh”. Sự đánh giá các chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn ở thời đại này do vậy, là sự chín muồi của một quá tŕnh nhận thức, để chuyển từ nhận thức của giới sử học tới nhận thức của xă hội. Nó không thể tách rời với quá tŕnh đổi mới của đất nước, cũng có nghĩa là sự đổi mới trong tư duy lănh đạo của Đảng cầm quyền, bắt đầu từ đổi mới tư duy kinh tế với một khẩu hiệu hành động: “Dám nh́n thằng vào sự thật, nói đúng sự thật”. 

  

Giới sử học Việt Nam không giấu diếm những thuộc tính mang “tính thời đại” của ḿnh với đặc trưng là đội ngũ các “sử gia công chức”. Chúng ta rất hay nói đến tính khách quan của lịch sử, hay nhắc đến câu chuyện “ngụ ngôn kinh điển” về ba anh em sử gia phương Bắc từng thay nhau nhận cái chết để không thay đổi sự thật. Đă là ngụ ngôn th́ đó cũng chỉ là sự mong muốn, mang tính lư tưởng mà thôi.

 

Sử học là một khoa học, nhưng nó cũng không thể không mang màu sắc chính trị. Thời đại nào, ở đâu và ai cầm bút viết sử cũng vậy. Chỉ có điều chính trị biết phục tùng quy luật, căn cứ vào tính chân thực trong nhận thức quá khứ, đó sẽ là nền chính trị bền vững và trường tồn, cho dù đạt tới tiêu chí đó không dễ dàng. Và ngược lại, nếu bất chấp quy luật, duy ư chí th́ chỉ có thể đạt đựoc những mục tiêu trước mắt nhưng sẽ không bền vững. Sử học  bao giờ cũng là sự phản chiếu nền chính trị đương thời.

 

Trong nhận thức ấy, xin đừng trách nền sử học một thời đă từng lên án nhà Nguyễn với những đánh giá mà ngày nay ta thấy thiếu sự công bằng. Cũng như xin đừng lên án sử nhà Nguyễn gọi Tây Sơn là giặc, sử nhà Lê gọi nhà Hồ hay nhà Mạc là “nguỵ triều” hay “nhuận triều”...

 

(Ai lên thăm ngôi đền Thượng ở Lào Cai thờ Đức Thánh Trần ngay gần biên giới đến nay vẫn thấy có những người bên kia biên giới sang cúng lễ v́ một thời, trong tâm thức người Trung Hoa vẫn gắn bó với cái gốc tích Hán tộc mà coi các triều Nguyên hay Thanh là nỗi nhục, và Đức Thánh Trần đă từng đánh bại quân Nguyên. Nhưng bây giờ tâm thức “Đại Hán” đă thay bằng “Đại Trung Hoa” nên họ lại rất tự hào về hai triều đại này, cứ xem phim Trung Quốc th́ thấy…)

 

Rơ ràng, nhận thức lịch sử cũng thay đổi cùng thời gian, mà động cơ hay động lực thay đổi chính là do đời sống đương đại đ̣i hỏi. Suốt thời nước ta bị Pháp đô hộ, th́ Quốc sử quán của nhà Nguyễn vẫn tiếp tục viết Đại Nam thực lục để ghi nhận và bảo vệ chế độ của ḿnh.

 

C̣n sử gia người Pháp (mà đôi khi ta “vơ đũa cả nắm” là sử gia thưc dân) đương nhiên nh́n nhận sự cai trị của người Pháp là một công cuộc khai sáng văn minh. Những người viết sử yêu nước từ cụ Phan Bội Châu (Việt Nam phong quốc sử) đến Nguyễn Ái Quốc (Diễn ca Lịch sử nước ta) đều coi đó là vũ khí tuyên truyền và tập hợp lực lượng cách mạng, lên án đế quốc và phong kiến.

 

Nhà giáo dạy sử nổi tiếng là Trần Trọng Kim trong “Việt Nam sử lược”  nhắc đến những điểm sáng trong sách của ông như “đề cao vai tṛ của Quang Trung và nhà Tây Sơn” vào thời điểm nhà Nguyễn tuy không c̣n là một triều đại tự chủ nhưng vẫn hiện diện trong bộ máy cai trị thuộc địa. Nhưng rồi chúng ta cũng biết rằng, trong ṿng xoáy của những biến cố chính trị, chính tác giả cuốn sách có giá trị này cũng lựa chọn một thế đứng cho ḿnh…

 

Chính v́ thế phải thấy sự nhận thức lịch sử phản ảnh trong chủ đề đánh giá các chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn cũng phản ảnh đời sống chính trị của đất nước. Nó vừa là kết quả nhận thức lịch sử, trước hết của giới sử học, vừa là những thay đổi trong nhận thức của toàn xă hội, bắt nguồn từ nhu cầu của chính đời sống hiện tại, của một thời đại lịch sử mới- hội nhập để phát triển.

 

 (C̣n nữa)

 

  • Dương Trung Quốc 

 

 

Lẽ phải và ḷng người

 

Việt Nam – net: 03:15' 30/10/2008 (GMT+7)

 

http://www.vietnamnet.vn/thuhanoi/2008/10/810920/

 

(tiếp theo)

 

…Quan trọng hơn lời khen hay chê chính là những đổi thay của đời sống đất nước, trong đó có đời sống sử học và đời sống chính trị. Nó phản ảnh một sự không cưỡng nổi của lẽ phải và ḷng người, của những giá trị về sự công bằng, nhưng cũng là sự đổi thay tích cực của một nền chính trị đang đổi mới và hội nhập.

 

Sử học và sử gia

 

Phải thừa nhận rằng một thời giới “sử gia-công chức” thực hiện xuất sắc vai tṛ minh hoạ và là vũ khí đấu tranh tư tưởng trong một thời kỳ đ̣i hỏi bởi sự khắc nghiệt của chiến tranh-cách mạng để đạt tới mục tiêu chiến thắng, không chỉ ngoại xâm mà cả những “tàn dư của chế độ cũ”.

 

Đọc “Tạp chí Văn Sử Địa” và tiếp đó là “Nghiên cứu lịch sử”- cơ quan ngôn luận của Viện Sử học Việt Nam, cơ quan “quản lư nhà nước” trên lĩnh vực lịch sử dân tộc sẽ thấy quan điểm lập trường là “thẳng tuột” không nương nhẹ đối với những vấn đề lịch sử, đúng với tinh thần “đưa 4000 năm vào trận đánh”. Điều đó không chỉ diễn ra hồi đánh Pháp rồi Mỹ, mà cả thời “chống bành trướng”.

 

 Đặt vào bối cảnh ấy, những vấn đề của các chúa Nguyễn nhất là Vương triều Nguyễn được đặt ra liên tục vẫn với tinh thần “phản đế, phản phong”, trừ các chiến công giữ nước của các triều đại phong kiến, mà thời các chúa Nguyễn hầu như chỉ diễn ra h́nh thái nội chiến (Trịnh-Nguyễn, Lê-Mạc, Nguyễn-Tây Sơn), có chăng là sự kiện các chúa Nguyễn đánh bại hạm thuyền Hà Lan ở Đàng Trong nhưng không có mấy ư nghĩa so với một đánh giá chủ đạo là tiêu cực. C̣n với nhà Tây Sơn, với chiến công hiển hách dẹp bỏ phân chia Đàng Trong-Đàng Ngoài, đánh Xiêm đuổi Thanh th́ đương nhiên được tập trung nghiên cứu đánh giá cao, đến mức có người coi đó là “cách mạng Tây Sơn”.

 

 Nhiều đề tài đă liên tiếp được đưa lên mặt tạp chí để thảo luận nhưng chủ yếu là để khẳng định nhiều hơn, để tranh luận nhằm đánh giá trực tiếp hay gián tiếp triều Nguyễn thông qua các chủ đề như “ai thống nhất quốc gia”, “khởi nghĩa nông dân”... và các cuộc thảo luận về các nhân vật lịch sử như Phan Thanh Giản, Lê Văn Duyệt... cho tới cả Nguyễn Công Trứ... đều trở thành những diễn dàn để công kích nhà Nguyễn một cách triệt để.

 

 Tại cuộc hội thảo vừa rồi, bài tham luận của nhà nghiên cứu Phan Thuận An từ cố đô Huế nhắc lại những đoạn trích trong lời giới hiệu bản dịch sách “Đại Nam thực lục” của Viện Sử học (1961) hay các bộ sách khi đó được coi là chính sử  do Uỷ ban KHXH tổ chức biên soạn (Lịch sử VN tập I, 1971 , tập II, 1985) là sự lên án tuyệt đối với các lời lẽ nặng nề, mạt sát như: “Tối tăm, cực kỳ phản động, hủ lậu, mục nát, mù quáng, cực kỳ ngu xuẩn” v.v...dành cho thời các chúa Nguyễn và triều Nguyễn.

 

Quan điểm ấy có thể thấy được trong nhiều ứng xử xă hội như huỷ hoại các di tích có liên quan, xoá bỏ các h́nh thức ghi nhận như tên đường phố, trường học, các công tŕnh công cộng tại các đô thị, thậm chí ngay cả với những “ông vua chống Pháp” như Duy Tân cũng bị băi bỏ. Một thời gian dài quần thể di tích cố đô Huế bị bỏ mặc để trở thành phế tích sau những đổ nát của chiến tranh và lụt lội...

 

 Nhà  nghiên cứu xứ Huế cũng lần ra người đầu tiên trong giới “sử gia-công chức” là GS Trần Quốc Vượng- người sớm nhất đưa ra một đánh giá sáng sủa hơn trên tờ “Sông Hương” (Huế) vào năm 1987 khi ông bày tỏ :”Tôi không thích nhà làm sử cứ theo ư chủ quan của ḿnh, và từ chỗ đứng của thời đại ḿnh mà chửi tràn chửi lấp toàn bộ nhà Nguyễn cho sướng miệng và ra vẻ có lập trường. Có thời nhà Nguyễn chúng ta mới có một Việt Nam hoàn chỉnh như ngày nay”. Điều ông nói diễn ra một năm sau “Đổi mới”(1986) và  sáu năm (1987) trước khi  quần thể di tích cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản văn hoá nhân loại (1993). 

 

Đổi mới nhận thức lịch sử

 

Có thể nói rằng chính cái nguyên lư khởi động công cuộc đổi mới là “Dám nh́n thẳng vào sự thật, nói lên sự thật” đă thúc đẩy và mở ra một điều kiện mới cho nhận thức lịch sử. Kể từ đó đến nay đă hơn hai thập kỷ thời gian gắn với đổi mới. Chính những yêu cầu của cuộc sống và phát triển đă đ̣i hỏi sự nhận thức quá khứ vượt qua được những quán tính của thời chiến tranh và cũng thoát ra khỏi những quan điểm ấu trĩ về đấu tranh giai cấp, về một chủ nghĩa duy vật lịch sử giáo điều.

 

 Nhưng liệu có phải như cảm nhận của nhà nghiên cứu Phan Thuận An đứng trước sự đánh giá lại các chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn, là như một “sự đảo lộn về nhận thức” hoặc t́m câu trả lời cho nhà thơ Nguyễn Duy, người đang làm bộ phim về ba ông vua yêu nước rằng: “Không hiểu tại sao và từ lúc nào lại bị biến dạng, bị hạ thấp một cách oan sai về thang bậc giá trị lịch sử và văn hoá của vương triều này”, và v́ sao lại phải “khơi ḍng lịch sử bị nghẽn” vào thời điểm này?

 

Thực ra những chuyển biến trong nhận thức về các chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn đă khởi động qua cả một quá tŕnh. Ai cũng biết khi vấn đề đấu tranh chứng lư để bảo vệ chủ quyền các quần đảo ngoài biển Đông, không thể không nhắc đến thời các chúa Nguyễn đă tổ chức những h́nh thức thể hiện quyền quản lư lănh thổ gắn với những hành động vô cùng dũng cảm của những người lính phụng mệnh các chúa  thực hiện nghĩa vụ của ḿnh. Tấm bản đồ được vẽ thời vua Minh Mạng có dải “Vạn lư trường sa” là những bằng chứng đanh thép  bảo vệ lợi ích quốc gia.

 

Năm 1988, Hội Sử học VN tái phục hồi (được thành lập từ 1966 do cố Viên trưỏng Viên Sử học Trần Huy Liệu sáng lập, nhưng sau khi ông qua đời vào năm 1969 th́ hội cũng chỉ c̣n duy tŕ một vài hoạt động đối ngoại). Kể từ đó nhiều cuộc hội thảo về đổi mới sử học, trong đó có những hội thảo đổi mới nhận thức về nhà Nguyễn và các chúa Nguyễn đă được tổ chức ở nhiều trung tâm giảng dạy và nghiên cứu, có những đề tài cấp nhà nước và giới sư phạm cũng đă bàn về việc giảng dạy những vấn đề liên quan trong nhà trựng, trong biên soạn sách giáo khoa...Tiếp đó, cố đô Huế là di sản sớm nhất được công nhận Di sản thế giới. 

 

Cũng trong năm 1988, giới sử học tổ chức kỷ niệm 130 năm thực dân nổ súnng xâm lược (1858) tại TP Đà Nẵng. Khi nghiên cứu kỹ chúng ta thấy triều đ́nh thời Tự Đức hoàn toàn không buông vũ khí, mà đă tổ chức kháng chiến với một năng lực tổ chức và ư chí mạnh mẽ, khiến đạo quân viễn chinh không chiếm được địa đầu này, buộc chúng phải chuyển hướng đánh vào Nam bộ. Những khu mộ Tây Ban Nha và cả một “nghĩa chủng” (nghĩa trang liệt sĩ) của những ngựi lính triều đ́nh cho đến nay vẫn c̣n trong thành phố Đà Nẵng là bằng chứng...

 

Việc để mất nước là một trách nhiệm nặng nề và không thể bào chữa đối với triều Nguyễn. Tuy nhiên không thể đơn giản dùng chữ “bán nước” mà phải đi sâu vào những hạn chế lịch sử của dân tộc ta, chứ không chỉ của triều đ́nh nhà Nguyễn đă không ứng xử được như Nhật Bản hay Xiêm (Thái Lan) khi ứng phó với nguy cơ xâm lược của chủ nghĩa tư bản phương Tây.

 

Nhưng số phận của Việt Nam cũng là số phận chung của số đông các quốc gia phương Đông trước họa bành trướng của chủ nghĩa thực dân phương Tây, kể cả nước Trung Hoa khổng lồ vào thời đại đó. Việt Nam không duy tân nổi đất nước có những nguyên nhân căn cốt của xă hội Việt Nam chứ không chỉ do sự tăm tối trong đường lối hay phẩm chất của bộ máy cai trị đất nước đương thời.

 

 Một ông vua Tự Đức, người trực tiếp tổ chức đánh Pháp rồi cũng lại là người chịu trách nhiệm về sai lầm để mất đất, bất lực để mất nước, ngay khi c̣n sống đă tự vấn về tội lỗi của ḿnh, làm hẳn một tấm bia lớn khắc lời tự hối trên sinh từ của ḿnh (Khiêm Lăng), cũng lại là một nhà thơ lớn với khoảng 4000 bài thơ, trong đó có nhiều bài vịnh lịch sử, tự hào về tổ tiên và tự hổ thẹn v́ ḿnh không xứng.

 

Ta nghĩ ǵ khi đọc thấy trên vách của điện Thái Hoà, nơi trang trọng nhất trong cung đ́nh triều Nguyễn bài thơ khắc trên gỗ với những vần thơ đầy khí phách và niềm tự tôn dân tộc của vị vua khai sáng triều Nguyễn :

 “Văn hiến thiên niên quốc/ Xa thư vạn lư đồ/ Hồng Bàng khai tịch hậu/ Nam phục nhất Đường ngu”. Tạm dịch :“Nước ngàn năm văn hiến / Vạn dặm một sơn hà/ Từ Hồng Bàng mở nước / Thịnh trị nước Nam ta”.

 

Ta nghĩ ǵ khi biết rằng vua Gia Long đă truất quyền nối ngôi của Hoàng tử Cảnh, người con đă gửi gắm cho giáo sĩ Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine) sang triều đ́nh Versaille cầu viện mà không chịu giữ đạo thờ cúng tổ tiên, để trao ngai vàng cho Minh Mạng, con người đầy năng lực cải cách. Con người này đă hướng tầm nh́n ra biển, không chỉ vẽ hải đảo xa xôi trên bản đồ mà c̣n chỉ huy việc đóng tàu chạy hơi nước bọc đồng và cho người tham quan các tàu biển của Anh và Mỹ  “học tập hàng hải biển để pḥng khi cần”.

 

Ta nghĩ ǵ khi tiếp xúc bộ địa bạ hàng vạn trang do quan lại triều Nguyễn tổ chức đo đạc và biên vẽ, hầu hết các thửa ruộng trên cả nước để quản lư đất đai, hay tổ chức viêc mở mang kinh doanh mà tiêu biểu như doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ lập ra hai huyện lấn biển Tiền Hải-Kim Sơn hay Thoại Ngọc Hầu đào kênh Vĩnh Tế đến nay càng thấy tài giỏi v.v...

 

Đổi mới tư duy chính trị

 

Cố Thủ tướng Vơ Văn Kiệt đă từng đi thị sát con sông đào này với ḷng thán phục quan lại và dân chúng xưa đă để lại một công tŕnh mẫu mực của trị thuỷ kết hợp với quốc pḥng và ngoại giao. Có thể nói thêm rằng chính cố TT đă là người động viên mạnh mẽ và thiết thực để tiến tới cuộc hội thảo vừa rồi. Đúng hơn, ông đă là người đồng hành và hỗ trợ cho những nỗ lực của giới sử học tổ chức từng buớc, thúc đẩy quá tŕnh nhận thức lại, bắt đầu từ những việc nhỏ đến lớn.

 

 Tôi không quên, sau cuộc hội thảo về “Thời Gia Long” do Hội Sử học t/p HCM tổ chức bị vài người “phát giác” với các nhà quản lư, khiến có một vài sự phiền phức đối với các nhà tổ chức, th́ cuộc hội thảo tiếp theo về Lê Văn Duyệt được tổ chức ngay tại địa phương toạ lạc ngôi Lăng Ông.

 

Lănh đạo địa phương trong thâm tâm rất ủng hộ việc làm này v́ biết nó thuận ḷng dân, nhưng đầy e ngại với những nhà quản lư cấp trên của ḿnh nên né tránh xuất hiện. Ông Vơ Văn Kiệt  đă đến, ngồi lắng nghe các tham luận rồi phát biểu với những lời đánh giá biện chứng về một chính khách thời Nguyễn đă có công đối với vùng đất và thành Gia Định xưa.

 

Kết thúc hội thảo, ông ra thẳng Lăng thắp nén hương như một lời tạ lỗi. Cho đến cuối đời ông vẫn suy nghĩ về việc con đựng Lê Văn Duyệt của Sài G̣n xưa đă bị xoá  tên vào lúc ông đang có quyền, để rồi trước khi mất không lâu ông đă nói với những người có trách nhiệm của thành phố rằng cần sớm đặt lại tên của vị Tả quân tài năng nhưng bất hạnh này (v́ bị cả vua Minh Mạng và cách mạng xử tệ).

 

Tết vừa rồi Hội Sử học VN cùng những người có tâm đức đă đặt một bức tượng đồng lớn vào Lăng của Ngài với sự đồng thuận của Cục Di sản (Bộ Văn hóa- Thể thao- Du lịch) và chính quyền như một sự kiện có ư nghĩa. Ông đă có mặt với một tinh thần cầu thị và quyết vượt qua những nhận thức hạn chế của quá khứ, đồng hành cùng giới sử học tổ chức các cuộc hội thảo về Trương Vĩnh Kư và Phan Thanh Giản.

 

Sau những cuộc hội thảo này ngôi trường tư thục mang tên Trương Vĩnh Kư đă ra đời, và mới đây bức tượng bán thân Phan Thanh Giản do chính cố Thủ tướng Vơ Văn Kiệt cung tiến đă được đặt ở quê hương ông...

 

Gs Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Sử học VN tại cuộc hội thảo vừa rồi ở Thanh Hoá đă cho biết, chính cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, vào ngay thời điểm đang chỉ đạo việc biên soạn bộ lịch sử do UBKHXH chủ tŕ đả phá quyết liệt các chúa Nguyễn và triều Nguyễn đă nói ở trên, cũng nhắc nhở những người tham gia biên soạn bộ sử ấy rằng, rồi “đến lúc nào đó” phải đánh giá lại chính những quan điểm của bộ sử này về các chúa Nguyễn và triều Nguyễn (?!) .

 

Có thể có nhiều cách nh́n nhận về vấn đề này, nhưng điều quan trọng hơn lời khen hay chê, chính là những đổi thay của đời sống đất nước, trong đó có đời sống sử học và đời sống chính trị. Nó phản ảnh một sự không cưỡng nổi của lẽ phải, của ḷng người, của những giá trị về sự công bằng, nhưng cũng là sự thay đổi tích cực của một nền chính trị đang đổi mới và hội nhập, đang từng bước vượt qua những quán tính của một thời kỳ lịch sử đă qua, gắn với những yêu cầu của “chiến tranh-cách mạng”, khắc phục những ấu trĩ trên bước đường trưởng thành v́ lợi ích phát triển của dân tộc.

 

 Vĩ thanh

 

 Tôi muốn kể lại một “kỷ niệm nghề nghiệp” cách đây cũng đă  15 năm khi vào Quảng B́nh chủ tŕ việc tổ chức hội thảo về nhân vật Đào Duy Từ, một người tài năng bị chúa Trịnh bạc đăi nhưng được chúa Nguyễn biệt đăi. Ông chính là tác giả của Luỹ Thày bên sông Nhật Lệ và và Luỹ Trường Dục  chặn đứng quân Trịnh bên ḍng sông Gianh, chấm dứt binh lửa giữa hai thế lực, giúp các chúa Nguyễn rảnh rang phía Bắc để mở mang bờ cơi về phương Nam.

 

Mọi việc đă chuẩn bị chu đáo để hôm sau khai mạc hội thảo. Bỗng có tin  v́ có người b́nh luận rằng tại sao lại đề cao con người có tội đă đắp luỹ chia cắt đất nước khiến dân tộc phải mang “mối hận sông Gianh”, nên có thể nhiều vị lănh đạo quan trọng của địa phương sẽ vắng mặt, cho dù  trước đó đă hồ hởi nhận lời tham dự. Người chủ tŕ hội thảo của địa phương vô cùng lo lắng.

 

 Tôi trấn an rằng hội thảo khoa học th́ cứ tiến hành, hy vọng kết quả sẽ làm sáng tỏ “công-tội” của người xưa. Lan man sang những câu chuyện bên lề, có ai đó hỏi: “Học giả Đào Duy Anh có phải là hậu duệ cụ Đào Duy Từ không nhỉ?”. Tôi nói rằng không rơ, nhưng thường có chung họ, lại cả đệm nữa th́ có thể không cùng nơi phát tích (quê) nhưng thường “suy cho cùng” th́ rất có thể có chung ḍng máu (thân tộc)...Câu chuyện lan man tiếp rồi đụng đến tên tuổi một nhà lănh đạo quan trọng hồi đó cũng trùng họ và đệm với cụ Đào Duy Từ. Tôi cũng trả lời tương tự...

 

 Thế rồi, cuộc hội thảo ngày hôm sau thành công rực rỡ, không chỉ v́ chất lượng nội dung của nó mà c̣n v́, và rất quan trọng đối với địa phương là hầu hết các vị lănh đạo ở tỉnh đều tham dự rất... hồ hởi.  

              

  •  Dương Trung Quốc

 

 

Đột phá hay chạy tội

Vũ Hạnh - Dương Linh

(Thứ ba ,  16/12/2008, 10:50)

http://congan.com.vn:3333/home/van_de_hom_nay/2008/12/20081215.83949.html

Sau cuộc Hội thảo “Chúa Nguyễn và  triều Nguyễn” do Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức quy mô ở Thanh Hóa, dư luận xă hội quan tâm, v́ có nhiều cơ quan thông tin đại chúng (báo, đài) quảng bá rộng răi cốt gây sự chú ư trong dân chúng. Vấn đề đă quá cũ, nay “hâm nóng” lại th́ phải có “thủ pháp” làm sao cho nổi bật. Có tờ báo đưa tít giật gân: “Đột phá(?) trong nhận thức về Chúa Nguyễn, triều Nguyễn”. “Đột phá” kiểu ǵ trong khi vấn đề đă rơ gần hai trăm năm nay?

Ông Tương Lai đánh lừa dư luận trên Tuần Việt Nam Net 10-7-2008 như sau: “Một khi cái giả biến thành cái thật được đem rao giảng cho thế hệ trẻ th́ khác nào axít gặåm nhấm tâm hồn họ, sự thật lịch sử bị vùi lấp, xuyên tạc bởi bất kỳ lư do nào cũng làm giảm sút, nao núng ḷng tin, ḷng tự hào về lịch sử dân tộc của lớp trẻ - chất xi măng kết dính những tâm hồn Việt Nam. Nh́n lại lịch sử triều Nguyễn chính là cách Việt Nam nâng cao bản lĩnh dân tộc (?) lựa chọn văn hóa, giải quyết bi kịch lịch sử”. Cái “bi kịch lịch sử” mà ông Tương Lai muốn nói là cái bi kịch nào? Phải chăng chính là cái “bi kịch” của ông GS NGND Phan Huy Lê - Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam - đă nêu rơ trong báo cáo đề dẫn cuộc hội thảo: “Sau Cách mạng Tháng 8 - 1945 cho đến năm 1975 trong thời kỳ chiến tranh, công việc nghiên cứu nói chung có bị hạn chế, số lượng các công tŕnh nghiên cứu chuyên đề không nhiều. Nhưng chính trong bối cảnh này đă xuất hiện một khuynh hướng phê phán gay gắt các Chúa Nguyễn cũng như các Chúa Trịnh và đặc biệt là vương triều Nguyễn thế kỷ XIX. Khuynh hướng này phát triển ở miền Bắc trong thời gian từ năm 1954 phản ánh trên một số luận văn trên tạp chí Văn Sử Địa, Đại học Sư phạm, Nghiên cứu lịch sử và biểu thị tập trung trong những bộ lịch sử, lịch sử văn học, lịch sử tư tưởng Việt Nam...

Thái độ phê phán gay gắt trên có nguyên do sâu xa trong bối cảnh chính trị của đất nước thời bấy giờ và trong cách vận dụng những phương pháp luận sử học của các nhà nghiên cứu.
Quan điểm trên nảy sinh, xác lập trong những năm từ 1954 - 1956 và phát triển mạnh cho đến những năm 1970 của thế kỷ XX. Đó là thời kỳ cả dân tộc đang tiến hành cuộc chiến tranh vô cùng ác liệt để hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Trong thời kỳ đó, độc lập dân tộc và thống nhất quốc gia là mục tiêu cao cả, có ư nghĩa thiêng liêng của cuộc chiến đấu. V́ vậy khi nh́n lại lịch sử, bất cứ hành động nào xúc phạm hay đi ngược lại độc lập và thống nhất đều bị phê phán. Cuộc tranh luận về cuộc thống nhất đất nước thời Tây Sơn và nhà Nguyễn cũng tiến hành trong không khí chính trị đó và đă xuất hiện quan điểm cực đoan cho rằng Tây Sơn đă hoàn thành, thậm chí hoàn thành triệt để khôi phục quốc gia thống nhất. Bối cảnh lịch sử của cuộc chiến tranh đă tác động đến thái độ của nhiều nhà sử học trong nh́n nhận và đánh giá về các Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn”.

Đặc biệt, đoạn văn sau này của ông Phan Huy Lê đă bộc lộ quan điểm của ông là: “Nguyên nhân về vận dụng phương pháp luận là thuộc về trách nhiệm của các nhà sử học. Đây là thời kỳ nền sử học hiện đại xây dựng trên hệ tư tưởng Mác-xít đang h́nh thành và trong vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử phạm những sai lầm của chủ nghĩa giáo điều, công thức máy móc”.

Ở một đoạn khác ông viết: “Áp dụng h́nh thái kinh tế xă hội và đấu tranh giai cấp một cách giáo điều đă dẫn đến những hệ quả đưa ra những phân tích và đánh giá lịch sử thiếu khách quan, không phù hợp với thực tế lịch sử. Không riêng các Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn mà những nhân vật lịch sử liên quan, và rộng ra khắp cả vương triều Mạc trước đó, đều bị đánh giá theo quan điểm chưa được khách quan công bằng như vậy”.

Sau khi cuộc hội thảo kết thúc, ông Phan Huy Lê c̣n tuyên bố với báo chí hết sức chủ quan: “...Cuộc hội thảo lần này đă nhận được hưởng ứng rộng răi không chỉ của giới khoa học mà c̣n của dư luận xă hội”. Vâng, sự hưởng ứng rộng răi dư luận xă hội mà giáo sư Phan Huy Lê nói, đó là những bài báo của các tác giả như giáo sư Trần Thanh Đạm, nhà viết kịch Trường Sinh, nhà nghiên cứu Đặng Trần Nguyên đăng trên tuần báo Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh (số 41, 42, 43, 44, 45 tháng 11-2008) phản bác lại những luận điểm của ông và ông Tương Lai, cũng như tham luận của một số người cùng quan điểm với ông trong hội thảo.

Không phải đợi đến cuộc hội thảo mà Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức ở Thanh Hóa do GS Phan Huy Lê chủ tŕ mới đây đ̣i đánh giá và nh́n nhận lại lịch sử, mà hàng trăm năm qua từ lúc Gia Long lên ngôi (năm 1802) đến ông vua cuối cùng Bảo Đại trao ấn kiếm cho đại diện chính quyền cách mạng (tháng 8-1945) kết thúc vương triều Nguyễn, nhân dân ta ngay từ thời Gia Long, Tự Đức, đă nh́n nhận lịch sử một cách khách quan, công bằng. Bằng những lời buộc tội không thể chối căi như “Gia Long rước voi về giày mả tổ”, “Gia Long cơng rắn cắn gà nhà”, “Phan Lâm măi quốc - Triều đ́nh khí dân”, “Thà thua xuống láng xuống bưng réo ra đầu giặc lỗi chưng quân thần”, “Thà đui mà giữ đạo nhà/C̣n hơn có mắt ông cha không thờ”..., nhân dân ta thời ấy chỉ tập trung lên án Gia Long và Tự Đức chớ không một ai lên án cả vương triều Nguyễn. Trái lại, họ c̣n ca ngợi những ông vua yêu nước chống Pháp bị Pháp bắt bớ tù đày như Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân. Vậy mà đến nay GS Phan Huy Lê - tờ Vietnamnet ngày 19-10-2008, báo Sài G̣n Tiếp Thị ngày 20-10-2008 đưa tin - trong ư kiến trả lời phỏng vấn, ông ta đă nói: “Việc Nguyễn Ánh đưa quân Xiêm vào trong cuộc chiến chống Tây Sơn, trước đây có người lên án là hành động “cơng rắn cắn gà nhà”, là “bán nước”. Đó là quan điểm cực đoan”. GS c̣n biện minh: “Việc cầu viện không phải là sai lầm. Việc nhờ đến ngoại viện là chuyện thường xảy ra trong lịch sử”. Ông muốn nói đến Lê Chiêu Thống cầu viện nhà Thanh kéo quân qua đánh Tây Sơn để bảo vệ cái ngai vàng nhà Lê chăng? Và kết quả cuộc cầu viện đó thế nào chắc ông  biết rơ, cũng như ông biết rơ hơn ai hết năm vạn quân Xiêm do Nguyễn Ánh cầu viện đă bị Nguyễn Huệ tiêu diệt trong trận Rạch Gầm, Xoài Mút năm 1785. Chiến thắng oanh liệt đó của Tây Sơn đă có sự tham gia tích cực của nhân dân Nam Kỳ thời ấy nên không có tên giặc nào chạy thoát. Ông Lê c̣n cố nói thêm: “Đó chỉ là hành động không sáng, một t́ vết trong sự nghiệp Gia Long”.
Đưa quân giặc về giày xéo đất nước, đốt nhà, cướp của, hăm hiếp dân thường mà cho là “hành động không sáng”, là “t́ vết trong sự nghiệp Gia Long” th́ quả là ngụy biện của một nhà sử học. Nếu Gia Long c̣n sống, hẳn ông Lê sẽ được trọng thưởng v́ có công “chạy tội” bán nước cho ông ta.

(C̣n tiếp)

 

Đột phá hay chạy tội

Vũ Hạnh - Dương Linh

(tiếp theo)

Thứ năm ,  18/12/2008, 00:46

http://congan.com.vn:3333/home/van_de_hom_nay/2008/12/20081217.00850.html

Theo lập luận của GS Phan Huy Lê và những người theo quan điểm của ông th́ sau Cách mạng tháng 8 “từ năm 1945 đến 1975 xuất hiện một khuynh hướng phê phán gay gắt các chúa Nguyễn cũng như các chúa Trịnh và đặc biệt là vương triều Nguyễn thế kỷ XIX. Khuynh hướng này phát triển ở miền Bắc trong thời gian từ năm 1954... (Bản đề dẫn trong cuộc hội thảo Thanh Hóa). Thật không thể hiểu nổi một ông Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam lại có thể mạnh bạo kết luận như vậy. Lẽ nào ông không biết rằng trong lúc đi t́m đường cứu

nước, Nguyễn Ái Quốc ở Paris năm 1919 - đă công khai phê phán vương triều Nguyễn trên trận địa báo chí cách mạng (cần chú ư Nguyễn Ái Quốc chỉ phê phán gay gắt vương triều Nguyễn chứ không phê phán các chúa Nguyễn. Đó là thái độ công bằng với lịch sử). Sự phê phán đó đă được tiến hành một cách kiên định và liên tục kéo dài suốt cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Năm 1922, Khải Định được thực dân Pháp đưa sang dự hội chợ ở Marseille nước Pháp, th́ Nguyễn Ái Quốc viết vở kịch Con rồng tre đả kích tên vua bù nh́n này và chế độ cai trị của thực dân Pháp. Được sự ủng hộ của Đảng Cộng sản Pháp và những người tiến bộ, vở kịch Con rồng tre được diễn ở Câu lạc bộ ngoại ô Paris (Club de Faubourg) gây được tiếng vang lớn trong dư luận Pháp lúc bấy giờ. Ngoài Con rồng tre, Nguyễn Ái Quốc c̣n viết nhiều bài báo khác đả kích mạnh mẽ vua quan bù nh́n Huế và chế độ thống trị hà khắc, mị dân của thực dân Pháp. Năm 1923, Nguyễn Ái Quốc viết quyển Bản án chế độ thực dân Pháp, một lần nữa được dư luận hết sức chú ư - nhất là các dân tộc bị thực dân đế quốc thống trị - và lúc ấy không ai nghĩ chỉ 31 năm sau (1923 - 1954) bản án đó được thi hành bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, chôn vùi chủ nghĩa thực dân cũ, không riêng ở Việt Nam, mà trên quy mô toàn thế giới.

Trong báo cáo gởi Quốc tế Cộng sản ngày 21-9-1923, Nguyễn Ái Quốc viết: Triều đ́nh và vua quan (nhà Nguyễn) lệ thuộc tuyệt đối vào chính quyền Pháp. Họ bị Pháp khinh bỉ và nhân dân oán ghét.

Sau này về nước hoạt động (tháng 2-1941) trong bài “Dân ta nên học sử ta”, Nguyễn Ái Quốc lúc này mang tên Hồ Chí Minh viết trên báo Việt Nam Độc lập ngày 1-12-1942: Trước khi vua Gia Long bán nước cho Tây, nước ta vẫn là một nước độc lập. Và v́ muốn giành quyền làm vua mà Gia Long đem nước ta bán cho Tây. Thế là giang sơn gấm vóc tan tác tiêu điều, con cháu Lạc Hồng làm trâu ngựa.

Quan điểm của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đối với lịch sử là rất ṣng phẳng, phân minh. Người không hề công kích các chúa Nguyễn. Đối với vương triều Nguyễn, Người chỉ lên án Gia Long và Tự Đức. C̣n đối với vua Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân, Người từng viết bài trên báo chí nước ngoài đề cao tinh thần yêu nước chống Pháp của ba vị vua đó. Trong báo cáo gởi Quốc tế Cộng sản ngày 22-7-1940, Người viết: Năm 1855, vua Hàm Nghi và năm 1916 vua Duy Tân đă đứng ra lănh đạo nhân dân chống Pháp. Một sự kiện rất lư thú là ngày 24-2-1920, Nguyễn Ái Quốc ở Paris đă nhận được thư của hoàng thân Vĩnh San (vua Duy Tân) gởi cho chủ nhiệm báo “Nhân Đạo” (L’humanité) Đảng Cộng sản Pháp về việc đ̣i độc lập cho Việt Nam. Trung tuần tháng 3-1920, Nguyễn Ái Quốc đă gặp hai đồng chí Marcel Cachin, Jean Longuet và báo Nhân Đạo đă mời Nguyễn Ái Quốc đến trụ sở báo để bàn về vấn đề này. Như vậy là đă rơ: Quan điểm của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trước sau như một: đối với lịch sử là rất công bằng, ṣng phẳng, công tội phân minh, không vơ đũa cả nắm.

Quan điểm chính thống của Bác Hồ và của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc đánh giá vương triều nhà Nguyễn đă và đang bị một số người cố t́nh xuyên tạc, phản bác. Họ muốn ǵ? Phải chăng họ muốn lau sạch vết nhơ tội lỗi tày đ́nh trên khuôn mặt những ông vua bán nước Gia Long, Tự Đức (thế kỷ 19), Khải Định, Bảo Đại (thế kỷ 20) mà lịch sử đă khắc sâu, tô đậm từ hai thế kỷ trước? Và trong việc phê phán những sai lầm của chủ nghĩa giáo điều, công thức, máy móc đối với lịch sử, họ nhằm vào mục đích ǵ? Phải chăng họ muốn phản bác, phủ nhận quan điểm chính thống của tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc đánh giá các nhân vật lịch sử vương triều Nguyễn, nhất là đối với Gia Long, Tự Đức? Họ đă lầm! Không ai bài bác, bôi nhọ thanh danh các chúa Nguyễn. Cũng chẳng có ai phủ nhận sự đóng góp của vương triều Nguyễn trong các lĩnh vực phát triển kinh tế, văn hóa và nghệ thuật... đă được nhân dân và lịch sử ghi nhận. Thành ngữ Pháp có câu: Đừng gơ vào cánh cửa đă mở toang rồi. Ông Tương Lai, với những luận điểm ngụy biện “chạy tội” kểí trên, không một công dân Việt Nam yêu nước nào - ở trong nước hay ở hải ngoại - chấp nhận được.

VŨ HẠNH – DƯƠNG LINH

 

Chiến thắng này là của toàn dân (*)

Vũ Hạnh – Dương Linh

SGGP:: Cập nhật ngày 29/04/2007 lúc 01:11'(GMT+7)

http://www.sggp.org.vn/chinhtri/2007/4/97289/

Ngày 30-4-1975 đă đi vào lịch sử dân tộc Việt Nam như bản anh hùng ca vĩ đại nhất, huy hoàng nhất, kết thúc cuộc trường chinh suốt 30 năm chống hai đế quốc xâm lược, hoàn thành trọn vẹn cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Một chế độ sụp đổ nhưng Sài G̣n và các thành thị miền Nam c̣n nguyên vẹn. Từ nay “giang sơn thu về một mối, Bắc Nam sum họp một nhà” như mong muốn của Bác Hồ để lại trong Di chúc, trước lúc Người đi xa.

Nhân dân Sài G̣n thay mặt cho nhân dân cả nước - kể cả kiều bào ở nước ngoài - hân hoan đón chào anh chiến sĩ giải phóng và cô du kích tự vệ nội thành, biểu tượng của lực lượng tổng tiến công và nổi dậy, những người làm nên đại thắng mùa xuân bất diệt, như chào đón những người thân yêu nhất với bao nụ cười và nước mắt, đúng như nhạc sĩ Xuân Hồng đă ghi trong ca khúc Xuân về trên thành phố Hồ Chí Minh: “Sau ba mươi năm ta mới gặp nhau, vui sao nước mắt lại trào”.

Cuộc hội ngộ đoàn viên trong ngày chiến thắng lịch sử, đă làm ngỡ ngàng, ngạc nhiên nhiều phóng viên, kư giả phương Tây có mặt ở Sài G̣n đúng vào thời khắc thiêng liêng ấy. Họ chờ một cuộc “tắm máu” trả thù của người chiến thắng với kẻ chiến bại để viết bài, quay phim, chụp ảnh... Nhưng trước mắt họ, nhân dân Sài G̣n cùng anh chiến sĩ giải phóng tay bắt mặt mừng cùng nhau tắm dưới ánh nắng mùa xuân rực rỡ đất phương Nam.

Một phóng viên người Ư thốt lên: “Ôi, tôi không tin vào mắt ḿnh. Đây không phải là một cuộc chiến, mà là một lễ hội liên hoan!”. Có lẽ trong lịch sử chiến tranh của nhân loại, chưa có cuộc kết thúc nào đẹp đến như vậy. Không ai phân biệt được người thắng kẻ thua, mà tất cả như ḥa thành một khối là: dân tộc Việt Nam đă chiến thắng, và kẻ thua duy nhất là đế quốc Mỹ.

Từ ngày xưa đến nay, những kẻ mang quân xâm lược đất nước Việt Nam, bất kể chúng từ đâu tới, và dù chúng có bộ óc thông minh nhất, cũng không sao hiểu được sức mạnh tiềm ẩn trong mỗi con người Việt Nam. Chúng đâu biết sức mạnh ấy bắt nguồn từ khi h́nh thành dân tộc Việt với truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ. Mẹ Âu Cơ đẻ một bọc trăm trứng sinh trăm con, năm chục theo cha xuống biển, thành ṇi giống Rồng Tiên đời đời cát cứ trên mảnh đất này.

“T́nh dân tộc, nghĩa đồng bào” cùng bốn ngàn năm văn hiến, đă tạo nên sức mạnh đoàn kết của dân tộc Việt chống lại “thiên tai, địch họa” và bao giờ cũng chiến thắng vẻ vang, oanh liệt. Sức mạnh cũng bộc lộ rơ khi đứng trước họa xâm lăng đe dọa sự tồn vong của Tổ quốc, th́ bao nhiêu sự lục đục, bất ḥa trong nội bộ nhân dân bỗng dưng tan biến, để muôn người như ḥa thành một khối “ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không súng gươm th́ dùng gậy gộc, cuốc, thuổng, cùng nhau đứng lên giết giặc cứu nước (Hồ Chí Minh - Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến 19-12-1946).

Có lẽ trên thế giới không một nước nào có khẩu hiệu: “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh!”. Mà đánh giỏi thật, từ Hai Bà Trưng, bà Triệu ngày xưa đến bà Định ngày nay, đều đă giáng những đ̣n làm bọn xâm lược phải “bạt vía kinh hồn”!

Sức mạnh tiềm ẩn trong dân tộc Việt Nam bắt nguồn chính từ mái ấm gia đ́nh. “Nước mất th́ nhà tan”, người dân Việt nào cũng hiểu như vậy. Nhưng nỗi khổ tâm nhất là của một bộ phận dân tộc ở trong vùng bị địch tạm chiếm trong hai cuộc kháng chiến.

Con em họ bị kẻ thù bắt đi lính cầm súng chống lại cách mạng, giết hại đồng bào, mà họ không sao ngăn chặn được. Nỗi đau c̣n nặng hơn khi có một thời cách mạng gọi họ là “gia đ́nh ngụy quân ngụy quyền “. Nỗi đau ấy kéo dài qua năm tháng biết bày tỏ cùng ai, chỉ biết dặn con “đừng làm điều ǵ ác mà mang tội!”.

Đến khi cách mạng hiểu và thông cảm, trước khi có chính sách “ḥa hợp, ḥa giải dân tộc”, gọi họ là “gia đ́nh đau khổ”, th́ họ hết sức xúc động, bởi cách mạng đă hiểu sâu sắc nỗi đau âm thầm chịu đựng của họ qua bao năm tháng. Và họ biết phải làm ǵ để đền đáp lại sự thông cảm “thấu t́nh đạt lư” ấy.

Những bức thư từ, những lời nhắn gởi, những buổi thăm con cái ở tiền đồn mặt trận, hay trong Bệnh viện Quân y Cộng Ḥa... đă làm thức tỉnh ḷng yêu nước trong tâm hồn những chàng trai lỡ lầm cầm súng cho giặc. Những cuộc binh biến, đào ngũ, ră ngũ tập thể, hoặc làm nội ứng cho quân giải phóng đă diễn ra trên các chiến trường - nhất là trong và sau “mùa hè đỏ lửa” năm 1972 và mùa xuân năm 1975 - phải chăng có sự đóng góp của những “gia đ́nh đau khổ” tạo ra?

Đây là sự thật lịch sử trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Nó cũng chứng minh khi có chính sách đúng, nh́n nhận đúng vấn đề của Đảng, của cách mạng th́ sẽ tạo ra sức mạnh như những cơn địa chấn lớn trong các “gia đ́nh đau khổ” và họ cũng góp phần không nhỏ trong chiến thắng chung của dân tộc mùa xuân năm 1975.

“Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” đồng chí Tổng Bí thư anh Ba Lê Duẩn đă nhiều lần nhắc nhở cán bộ đảng viên làm công tác lănh đạo đừng bao giờ quên chân lư ấy. Sau ngày giải phóng, anh Ba bước xuống sân bay Tân Sơn Nhất ôm hôn các đồng chí lănh đạo Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh ra đón, anh Ba khẳng định: “Chiến thắng vĩ đại này là công lao của toàn dân, toàn quân, toàn Đảng được Bác Hồ lănh đạo và thế giới ủng hộ, tuyệt nhiên không phải của riêng ai. Lúc này ai kể công là có tội với Dân, với Đảng!” (Hồi kư Tố Hữu).

Lời tuyên bố của anh Ba là sự khẳng định chân lư của lịch sử về Đại thắng mùa xuân năm 1975, đáng để chúng ta suy ngẫm nhân dịp kỷ niệm lần thứ 32 ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Tháng 4 năm 2007

VŨ HẠNH – DƯƠNG LINH

-------------------
(*) Lời của cố Tổng Bí thư Lê Duẩn.

Điểm nhấn:

 

 

ĐỂ H̉A HỢP, H̉A GIẢI, HÀN GẮN VẾT THƯƠNG CHIẾN TRANH, HẬU CHIẾN VỚI NIỀM CẢM THÔNG THỰC SỰ, KHÔNG ĐẦU MÔI CHÓT LƯỠI, VÀ ĐỂ THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC Ở CHIỀU SÂU, TRÊN CƠ SỞ SỰ THẬT LỊCH SỬ KHÁCH QUAN, XÁC THỰC (SỰ THẬT LỊCH SỬ KHÔNG BỊ VO TR̉N, BÓP MÉO),

WEBTGTXA. KHĂC SÂU ĐIỂM NHẤN: 

 

Ư nghĩ về dự kiến sửa đổi sách giáo khoa văn học & sử học

http://tranxuanan.writer.2.googlepages.com/du_ksdsgkhoa.htm 

(Trần Xuân An)

 

 

________________________________________________________________________________________________

 

Trở về

 

THÔNG BÁO CẬP NHẬT Ở CÁC TRANG KHÔNG PHẢI TRANG BÀI MỚI - SÁCH MỚI - TIN TỨC MỚI:

http://tranxuanan.writer.googlepages.com/thongbao-update_mucluctrang

 

TRANG BÀI MỚI - SÁCH MỚI - TIN TỨC MỚI

&

trang mục lục Giao Lưu:

http://tranxuanan.writer.googlepages.com/linkdoanket_mucluctrang

(mục lục của mục này -- các trang Giao lưu)

http://tranxuanan.writer.googlepages.com/linkdoanket

(trang 1 Giao lưu)

TRANG "NGÀN WEBs CỦA NGÀN NHÀ":

http://tranxuanan.writer.2.googlepages.com/webcacnha

Trang chủ Web. Tác giả Trần Xuân An:

http://tranxuanan.writer.googlepages.com

trang "Những trang mục trên 'Web Tác giả Trần Xuân An'":

http://tranxuanan.writer.googlepages.com/webtacgiatranxuanan

hidden hit counter