TRANG PHỤ 3 -- BLOGSPOT.COM -- LƯU - 3

Địa chỉ hiện tại: http://tranxuanan-trphu.blogspot.com/

LINKs: NƠI LƯU NHỮNG TỆP THÔNG TIN VỐN HIỆN HỮU Ở 3 TRANG PHỤ NÀY TRƯỚC NGÀY 02-12 HB6 (2006)

Vui ḷng đừng bấm vào những links dưới đây, bởi ở 3 trang web/docs, theo các đường dẫn ấy, hầu hết là những tệp thông tin trao đổi nhất thời và những thư tín cá nhân. Ngoài ra, cũng có những bài viết đích thực là tác phẩm (sáng tác, nghiên cứu, phê b́nh hoặc bài báo) của các nhà văn, nhà báo Nguyễn Khắc Phê, Giao Hưởng, Nguyễn Tiến Đạt, Chu Thụy, của Ban Việt ngữ BBC, của Trần Xuân An, những bài đó đă và sẽ ở dạng hiển thị vĩnh viễn, trên 3 phụ trương (phụ lục) hoặc ở các trang web khác thuộc Web. này.

Thành thật cảm ơn.



07-12 HB6 : TRANG PHỤ 1:

http://docs.google.com/View?docid=dc9fgpkh_29fvb2vm (changed link)
http://docs.google.com/View?docid=dc9fgpkh_29fvb2vm (changed link)

http://docs.google.com/View?docid=dc9fgpkh_68hfrrs2
http://docs.google.com/View?docid=dc9fgpkh_68hfrrs2

07-12 HB6 : TRANG PHỤ 2:

http://docs.google.com/View?docid=dc9fgpkh_41dwgtx5
http://docs.google.com/View?docid=dc9fgpkh_41dwgtx5

07-12 HB6 : TRANG PHỤ 3:

http://docs.google.com/View?docid=dc9fgpkh_51gc7fs5
http://docs.google.com/View?docid=dc9fgpkh_51gc7fs5


11 : 31' & 14 : 50, ngày 07-12 HB6;
6 : 39', ngày 08-12 HB6 (2006)
tại TP.HCM., Việt Nam

TXA.

http://tranxuanan-trphu.blogspot.com/

 

 

http—www-tranxuanan-trangphu3-blogspot-com


 

Web. Tác phẩm Trần Xuân An.
Sao chụp lai để lưu:


 

TRANG PHU 3 : PHAN HOI 3 / feedback 3 (PHU TRUONG 3)

http://www.tranxuanan-trangphu3.blogspot.com


 


 


 


 


 

Date

 

Post Title

[Post up on this web by]

 

 

11/20/2006


 

Frame1

Phan Huyên Đ́nh


 


 

 


 

 


 

11/07/2006


 

Frame2

Phan Huyên Đ́nh


 


 

 


 

 


 

10/31/2006


 

Frame3

Phan Huyên Đ́nh


 


 

 


 

 


 

10/24/2006


 

Frame4

Phan Huyên Đ́nh


 


 

 


 

 


 

5/20/2006


 

Frame5

Phan Huyên Đ́nh

Draft


 

 


 

 


 

4/30/2006


 

Frame6

Phan Huyên Đ́nh

Draft


 

 


 

 


 

4/26/2006


 

Frame7

Phan Huyên Đ́nh


 


 

 


 

 


 

4/20/2006


 

Frame8

Phan Huyên Đ́nh


 


 

 


 

 


 

4/16/2006


 

Frame9

Phan Huyên Đ́nh

Draft


 

 


 

 


 

4/05/2006


 

Frame10

Phan Huyên Đ́nh

Draft


 

 


 

 


 

3/28/2006


 

Frame11

Phan Huyên Đ́nh


 


 

 


 

 


 

3/13/2006


 

Frame12

Phan Huyên Đ́nh

Draft


 

 


 

 


 


 

3/07/2006


 

Frame13

Phan Huyên Đ́nh


 


 

 


 

 


 

3/04/2006


 

Frame14

Phan Huyên Đ́nh

Draft


 

 


 

 


 

3/02/2006


 

Frame15

Phan Huyên Đ́nh

Draft


 

 


 

 


 

2/25/2006


 

Frame16

Phan Huyên Đ́nh


 


 

 


 

 


 


 


 

1


 

2/25/2006 LỜI NGỎ


 

2


 

BỔ SUNG

<em>(Kính mong quư người đọc thứ lỗi

về sự bổ sung trễ tràng

và không theo thứ tự file / weblog này)</em>


 

<strong>TRẦN XUÂN AN</strong>

(biên soạn)


 

<strong><a href="http://tranxuanantsbnnvt2.blogspot.com/">TIỂU SỬ BIÊN NIÊN

K̀ VĨ PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN

NGUYỄN VĂN TƯỜNG

(1824 – 1886)</a>

<em>“kẻ thù lớn nhất

của chủ nghĩa thực dân Pháp” </em></strong>

<em>(bổ sung) </em>[*]

<strong>(Tệp 12) </strong>


 

Tiếp theo các trang web:

<strong><a href="http://tranxuanantsbnnvt.blogspot.com/">http://tranxuanantsbnnvt.blogspot.com/</a></strong>

<strong><a href="http://tranxuanantsbnvt2.blogspot.com/">http://tranxuanantsbnvt2.blogspot.com/</a></strong>


 


 

<strong>NHÂN CHỨNG CÙNG THỜI</strong>


 

DANH SÁCH SỬ THẦN QUỐC SỬ QUÁN TRIỀU NGUYỄN BIÊN SOẠN <em>“ĐẠI NAM THỰC LỤC CHÍNH BIÊN” </em>CÁC KỈ IV, V, VI [**]


 


 

<strong>A. </strong>

ĐẠI NAM THỰC LỤC CHÍNH BIÊN ĐỆ TỨ KỈ (IV) [1847 – 1883]:


 

I. DANH SÁCH THỨ NHẤT VỀ SỬ THẦN TRIỀU NGUYỄN (năm Thành Thái thứ 6, Giáp ngọ [1894], trở về trước, <em>“đă làm rồi” </em>[nguyên văn, tập 27, sđd., tr. 26]) [***]:

<em>1) Tổng tài: </em>

Nguyễn Hữu Độ, Phan Đ́nh B́nh, Nguyễn Trọng Hợp

<em>2) Phó tổng tài: </em>

Trương Quang Đản, Đoàn Văn Hội, Bùi Ân Niên, Nguyễn Thuật

<em>3) Toản tu: </em>

Hoàng Hữu Xứng, Vũ Nhự, Thành Ngọc Uẩn, Trịnh Tỉnh Tiềm, Tô Châu

<em>4) Biên tu: </em>

Ngô Huệ Liên, Trịnh Ngũ Văn, Nguyễn Hoàn Hoành, Thái Đ́nh Thạc, Nguyễn Xuân Toản, Trần Trạm, Trương Trọng Hữu, Lê Hân, Hồng Thiết, Ưng Phương

<em>5) Hiệu khảo: </em>

Lê Mậu Đàn, Hoàng Trung, Hồ Đắc Mưu, Hồ Quư Thiều, Hồng Trước, Hoàng Qú

<em>6) Đằng lục: </em>

Hồ Chất, Hồ Hữu Bằng, Nguyễn Tất Quang, Trần Ngọc Tú, Nguyễn Thoại, Lê Ngoạn, Phan Văn Tiếu, Văn Hữu Điển, Trần Đại Lượng, Lê Chuân, Nguyễn Hữu Cận, Dương Đ́nh Huấn, Hoàng Lưu, Trịnh Quang Huyến, Ngô Thanh Điềm, Hà Văn Chất, Hoàng Cương, Nguyễn Long, Lê Khắc Phổ, Lê Hải, Vũ Đ́nh Quế, Trần Đức Nhuận

<em>7) Thu chưởng: </em>

Đặng Văn Khoa, Hoàng Văn Trung, Khương Văn Tán, Nguyễn Văn Nho, Hoàng Lệnh Tự, Lê Bá Nhượng, Nguyễn Văn Để


 

II. DANH SÁCH THỨ HAI VỀ SỬ THẦN TRIỀU NGUYỄN (năm Thành Thái thứ 6, Giáp ngọ [1894], trở về sau, <em>“nhiều lần làm tiếp tục” </em>[nguyên văn, tập 27, sđd., tr. 29]):


 

<em>1) Tổng tài: </em>

Trương Quang Đản

<em>2) Phó tổng tài: </em>

Hoàng Hữu Xứng

<em>3) Toản tu: </em>

Nguyễn Quán, Ngô Huệ Liên, Nguyễn Liễn

<em>4) Biên tu: </em>

Hồ Trung Lương, Nguyễn Trọng Thưởng, Phạm Tuân, Trương Đức Uẩn,

<em>5) Thừa biện: </em>

Trần Dĩnh Sĩ, Đàm Khiêm, Nguyễn Đức Huy, Hoàng Hỗn, Hoàng Mậu, Nguyễn Văn Chấn, Vương Đ́nh Trân, Từ Thiệp, Đặng Nguyên Cẩn, Nguyễn Khoa Đàm

<em>6) Đằng lục: </em>

Nguyễn Quát

<em>7) Thu chưởng: </em>

Nguyễn Cận

<em>8) Đằng tả: </em>

Hồ Xuân Hiên, Hồ Hoành, Hoàng Khải, Vũ Thiệu, Nguyễn Đại Đoan, Phan Tập, Trịnh Quang Bích


 


 

<strong>B. </strong>

ĐẠI NAM THỰC LỤC CHÍNH BIÊN ĐỆ NGŨ KỈ (V) [1883 – 1885]:


 

DANH SÁCH SỬ THẦN TRIỀU NGUYỄN:

<em>“Khởi làm từ năm Thành Thái thứ chín, Đinh dậu (1897) đến năm thứ mười bốn, Nhâm dần (1902); trước sau gồm 6 năm; xong việc hiệu chính, sửa chép thành biên; dâng vào kho sử” </em>(nguyên văn, tập 36, sđd., tr. 13).

<em>1) Tổng tài: </em>

Trương Quang Đản

<em>2) Phó tổng tài: </em>

Nguyễn Thuật, Hoàng Hữu Xứng, Cao Xuân Dục

<em>3) Toản tu: </em>

Nguyễn Quán, Ngô Huệ Liên, Trần Sĩ Trác, Nguyễn Liễn

<em>4) Biên tu: </em>

Lê Đ́nh Luyện, Hồ Trung Lượng, Vũ Ngọc Liễn, Phạm Tuân, Nguyễn Thiện Hành

<em>5) Khảo hiệu: </em>

Trịnh Hữu Phu, Hoàng Văn Quỳ, Hồng Trứ (Trước / Chước), Lê Kinh Tuấn

<em>6) Đằng lục: </em>

Nguyễn Thoại, Lê Nguyên Xán, Nguyễn Hữu Cận, Nguyễn Quát, Lê Chuân, Đồng Văn Tốn, Nguyễn Trọng Đỉnh

<em>7) Thu chưởng: </em>

Hoàng Văn Trung, Nguyễn Cận

<em>8) Đằng tả: </em>

Nguyễn Đại Đoan, Phan Văn Tập, Vơ Thiệu, Hồ Hoành, Lê Thiệu


 


 

<strong>C. </strong>

ĐẠI NAM THỰC LỤC CHÍNH BIÊN ĐỆ LỤC KỈ (VI) [1885 – 1888]:


 

<em>“Năm Thành Thái thứ sáu (1894), kính định chương tŕnh, chuẩn cho sửa soạn bộ ‘Cảnh tông Thuần hoàng đế thực lục chính biên’ làm kỉ thứ sáu”; “năm Thành Thái thứ mười sáu (1904), sách đă làm xong, đem tiến tŕnh, nhưng chưa được dụ chuẩn y” </em>(nguyên văn, tập 37, sđd., tr. 8). Đến ngày 12 tháng 7, năm Duy Tân thứ ba (1909), mới được dụ cho khắc in.


 

I. DANH SÁCH THỨ NHẤT VỀ SỬ THẦN TRIỀU NGUYỄN

<em>1) Tổng tài: </em>

Cao Xuân Dục

<em>2) Phó tổng tài: </em>

[không có; có lẽ kiêm nhiệm]

<em>3) Toản tu: </em>

Nguyễn Vỹ, Lưu Đức Xứng, Ngô Huệ Liên, Trần Sán

<em>4) Biên tu: </em>

Lê Đ́nh Luyện, Nguyễn Thiện Hạnh, Phạm Tuân, Trương Tuấn Nhiếp, Phạm Khắc Doăn, Nguyễn Xuân Thưởng

<em>5) Khảo hiệu: </em>

Lê Hoàn, Trần Cán

<em>6)Thừa biện: </em>

[không có; có lẽ kiêm nhiệm]

<em>7) Đằng lục: </em>

Lê Hy, Nguyễn Quát, Lê Chuân, Nguyễn Trọng Đĩnh, Nguyễn Hữu Cận, Đồng Trọng Duật, Trần Văn Diệu, Dương Hưng Lang

<em>8) Thu chưởng: </em>

Phan Văn Tập, Nguyễn Đại Đoan

<em>9) Đằng tả: </em>

[không có; có lẽ kiêm nhiệm].


 

II. DANH SÁCH THỨ HAI VỀ SỬ THẦN TRIỀU NGUYỄN:

<em>1) Tổng tài: </em>

Cao Xuân Dục

<em>2) Phó tổng tài: </em>

[không có; có lẽ kiêm nhiệm]

<em>3) Toản tu: </em>

Lưu Đức Xứng, Ngô Liên, Trần Sán

<em>4) Biên tu: </em>

Lê Đ́nh Luyện, Nguyễn Thiện Hạnh, Phạm Tuân, Trương Tuấn Nhiếp, Phạm Khắc Doăn

<em>5) Thừa biện: </em>

Nguyễn Đ́nh Diểu, Nguyễn Đ́nh Điển, Nguyễn Xuân Thưởng

<em>6) Khảo hiệu: </em>

Lê Hoàn, Trần Cán, Văn Phú Trí

<em>7) Đằng lục: </em>

Lê Hy, Nguyễn Quát, Lê Chuân, Nguyễn Trọng Đĩnh, Nguyễn Hữu Cận, Đồng Trọng Duật, Trần Văn Diệu, Dương Hưng Lang

<em>8) Thu chưởng: </em>

Phan Văn Tập, Nguyễn Đại Đoan

<em>9) Đằng tả: </em>

[không có; có lẽ kiêm nhiệm].


 


 

<strong><em>Danh sách dịch giả và người hiệu đính thuộc Viện Sử học Việt Nam (tại Hà Nội) [Nxb. KHXH]: </strong></em>


 

Hoa Bằng, Nguyễn Danh Chiên, Nguyễn Thế Đạt, Trần Huy Hân, Đỗ Mộng Khương, Trịnh Đ́nh Rư, Nguyễn Ngọc Tỉnh, Ngô Hữu Tạo, Phạm Huy Giu, Cao Huy Giu, Nguyễn Mạnh Duân, Trương Văn Chinh, Nguyễn Trọng Hân …


 

____________


 

[*] Người biên soạn (Trần Xuân An) đă chép lại danh sách này và đă đưa vào cuốn sách sưu tuyển <em>“Những trang ĐNTL.CB. về Ḱ Vĩ phụ chính đại thần <strong>Nguyễn Văn Tường</strong> và các sự kiện thời ḱ đầu chống Pháp…”</em> vào tháng 4-2001 (tháng 5 âl., Tân tị HB1). Nay xin bổ sung vào cuốn này, để tỏ rơ ư thức tôn trọng sự đóng góp vào sử học (trong đó có bản quyền danh tính) của quư vị sử gia và sử thần nói chung <strong><em>(mặc dù có một số người vốn xem Nguyễn Văn Tường là kẻ thù)</strong></em>, cũng như bản quyền dịch thuật của quư vị dịch giả (trong các danh sách ghi trên). Mặt khác, tôi muốn nhấn mạnh đến <strong><em>hiệu quả về tính khách quan của phương thức làm việc tập thể trong lĩnh vực sử học</strong></em> (tính hội thẩm).


 

[**] Mặc dù <em>“Đại Nam thực lục chính biên” </em>kỉ thứ ba (1841 – 1847) ghi chép rất ít về Nguyễn Văn Tường, người biên soạn (Trần Xuân An) cũng xin lược chép thêm một số sử thần đă biên soạn kỉ này. Danh sách như sau: Trương Đăng Quế, Trần Tiễn Thành, Phan Thanh Giản (tổng tài); Lâm Duy Thiếp, Lê Bá Thận, Trương Quốc Dụng, Phan Huy Vịnh, Nguyễn Tư Giản, Lê Tuấn, Đỗ Đăng Đệ (phó tổng tài); Tô Trân, Phạm Hữ Nghi, Phạm Chi Hương, Bùi Quỹ, Vũ Phạm Khải, Phạm Huy, Lê Lượng Bạt, Bùi Sĩ Tuyển, Pham Huy Bính, Phạm Huy, Nguyễn Phong, Đăng Văn Kiều, Phạm Quư Đức, Trần Liên Huy, Phan Văn Nhă, Đặng Đức Địch, Nguyễn Khuyến, Trần Khánh Tiến (toản tu); Vũ Văn Tuấn, Phan Đ́nh Dương, Nguyễn Huy Lịch, [v.v…], Nguyễn Liên, Nguyễn Quán, Nguyễn Hữu Chỉnh [v.v…] (biên tu)…


 

[***] Trong giai đoạn sơ thảo <em>“Đại Nam thực lục chính biên” </em>kỉ thứ tư (1847 – 1883), đúng ra, c̣n có sự tham gia của <strong><em>Nguyễn Văn Tường</strong></em> (tổng tài), Phạm Thận Duật (phó tổng tài) vào các năm 1883 – 1885, nhưng cả hai đều bị truất khỏi danh sách, sau cuộc kinh đô quật khởi (05-7-1885). Xin lưu ư: Kỉ thứ tư (1847 – 1883) này chỉ thực sự được biên soạn lại về sau, vào triều Thành Thái, như đă ghi trên. Ngoài ra, thiết tưởng cũng xin lưu ư thêm: <strong><em>Nguyễn Văn Tường</strong></em> và Phạm Thận Duật c̣n có sự đóng góp vào việc hiệu chỉnh và khắc in <em>“Khâm định Việt sử thông giám cương mục” </em>, nhưng trong danh sách chỉ c̣n tên của Phạm Thận Duật, c̣n <strong><em>Nguyễn Văn Tường</strong></em> bị truất hẳn danh tính.


 


 


 

Địa chỉ người biên soạn:


 

TRẦN XUÂN AN

71B Phạm Văn Hai

(cửa hiệu tạp phẩm Phan Huyên)

Phường 3, Tân B́nh

Thành phố Hồ Chí Minh.


 

ĐT: [08].8453955

&amp; 0908 803 908

Điện thư: <strong>tranxuanan_vn@yahoo.com</strong>


 


 

<strong>HẾT </strong>


 

<em>Xếp chữ xong <strong>

TỆP 12 (BỔ SUNG)</strong>,

vào lúc 17 giờ 00 phút,

ngày thứ hai (thứ ba cũ) 02-03 HB6 ( 2006 )

[03 tháng hai, Bính tuất HB6 ]

tại Tp. HCM., Việt Nam.


 

<strong>Trần Xuân An </strong></em>


 

3


 

<strong>TRẦN XUÂN AN</strong>

<em>TRÍCH LẠI DĂM BÀI THƠ CŨ,

NHƯ MỘT GÓP Ư CHO THỜI CUỘC</em>


 

<strong>Lời đề tặng

ghi ở trang đầu tập thơ

<em> “Giọt mực, cánh đồng và vở kịch điên” </em></strong>


 

<em> Trên trang đầu phần thứ nhất của tập thơ này, phần <strong>thơ tỉnh thức</strong>, tôi xin trang trọng đề tặng hai nhân vật thân quư của tôi: Lê Đất Lành và Trần Sa Mưu, vốn là hai h́nh tượng rất thích thú nghiên cứu tâm thần học và đă bị ''phát điên'' trong một thời gian ngắn. Những cảm xúc, suy nghĩ hoang tưởng của hai h́nh tượng nhân vật đó, tất nhiên chỉ là hư cấu nghệ thuật, nhưng ít nhiều đă ''phản ánh những âu lo, thao thức, khát vọng của con người'', hiện tại cũng như mọi thời, nhất là trong các lĩnh vực văn hoá, sử học ... Cũng trên trang đầu phần thơ này, tôi xin được bày tỏ chút ḷng đồng cảm về nỗi ''cuồng điên'' ấy của hai nhân vật, <strong>nỗi ''cuồng-nhân-nhật-kí'' đậm màu thời cuộc</strong>. Tôi muốn thể hiện thành thơ ca và tiểu thuyết với ít nhiều cách điệu, với thủ pháp nhập thân, để làm nổi rơ tính điển h́nh, chân thật của hai h́nh tượng. </em>

10.01.1998

TRẦN XUÂN AN


 


 

[ TRÍCH ]


 

<strong>HUYỀN TƯỢNG BÚA VÀ LIỀM</strong>


 

<em>I. QUÁN THẾ ÂM,

KHÁT VỌNG TỪ RUỘNG ĐỒNG (1) </em>


 

lắng tiếng Đời vạn ngh́n năm

chân quê, Mẹ ngự trong tâm - sen hồng

nến hương tỏa sáng hư không

nhân gian thờ lạy Nỗi Ḷng trần gian.


 

1993


 

<em>(1) Quán Thế Âm - Thị Kính là một h́nh tượng mă hóa phản ánh bi kịch không thể giăi bày (cái oan từ sự cố ''giết chồng'' buộc phải nín lặng trước nỗi oan ''hoang thai'' v́ sợ lộ tông tích), ư thức nhẫn nhục bi đát, cùng ước vọng thăng hoa và sự lí giải về tiền kiếp, hiện kiếp <strong> (chín kiếp chịu thử thách chứ không phải bị quả báo, theo luật nhân quả siêu h́nh thông thường) </strong>...</em>


 

<em>II. ĐỒNG TRINH, NIỀM RẤT THIÊNG

NHỮNG MA-RI-A XÓM THỢ (2) </em>


 

Mẹ ơi, nước mắt rơi thầm

nguồn đau vô thức xa xăm vơi đầy

hóa Thánh Linh chút thơ ngây

hạt máu Đời vút trời mây - Hồn Đời!

 

1993


 

<em> (2) Xem : Ma-thi-ơ, Lu-ca, Mác, Giăng: Ma-ri-a là một h́nh tượng lưỡng nghĩa: mẫu đề (mô-típ) bi kịch thân phận và mẫu đề phi thường, siêu phàm. Phi thường, siêu phàm, như mẹ Thánh Gióng, Thạch Sanh (truyện cổ nhân tộc Kinh), Po Rome (truyền thuyết Chăm)… Nghĩa ''con hoang'' nhất quán với sứ mệnh cứu chuộc của Giê-su, với nhiều chi tiết hiện thực vượt khỏi tư duy thần thoại, truyền thuyết, nghiêng về thế sự. Trích dẫn Kinh Thánh, phần Tân ước, Mathiơ: 1 : 18 – 19 : </em> “Đức Chúa Jêsus giáng sanh. Vả, sự giáng sanh của Đức Chúa Jêsus Christ đă xảy ra như vầy: Khi Ma-ri, mẹ ngài, đă hứa gả cho Giô-sép, song chưa ăn ở cùng nhau, th́ người đă chịu thai bởi Đức Thánh Linh. Giô-sép, chồng người, là người có nghĩa, chẳng muốn cho người mang tiếng xấu, bèn toan đem về để nhẹm. Song đang ngẫm nghĩ về việc ấy, th́ thiên sứ của Chúa hiện đến cùng Giô-sép trong giấc chiêm bao, mà phán rằng:…”. <em>Có thể dùng phân tâm học để giải thích giấc mơ này của Giô-sép (Joseph): nguyên nhân 1, v́ quá thương yêu Maria, cho dù Maria đă lầm lỡ; nguyên nhân 2, bị ám ảnh bởi lời tiên tri trong Cựu ước.

Xin xem thêm <strong>Tiểu luận</strong>:

<strong><a href="http://tranxuanantieuluan.blogspot.com/">http://tranxuanantieuluan.blogspot.com/</a></strong>

<strong><a href="http://tranxuanantieuluan2.blogspot.com/">http://tranxuanantieuluan2.blogspot.com/</a></strong>

Trong đó, đề nghị lưu ư bài</em> "Vấn nạn c̣n lại: Thành phần thứ ba thuộc hàng ngũ giáo phẩm, giáo dân Thiên Chúa giáo La Mă".


 


 


 

<strong>TRẦM UẤT,

BÀNG HOÀNG LÍ GIẢI VỀ M̀NH

KHI CÁI NH̀N ĐĂ KHÁC</strong>


 

vắt sổ, g̣ lưng đạp

được đôi phút thong dong

tự dưng nhớ ngôi trường

một thời cơm với bắp

dằn vặt văn với chương

chữ, nghĩa chỉ c̣n xác

dạy, học sao ra hồn!

giấy bút không dám thật

phấn bảng càng thêm buồn?


 

văn chương trong tháp sắt

đời không thể bít bùng?


 

đă qua thời ngây ngất

trước tầm cao núi rừng?


 

đă qua thời ngơ ngác

trước tay khoa mắt trương?


 

bao lần đứng trên bục

giá như được khóc ṛng

phải cười!

xuống tựa vách

bảng trắng đen chập chờn

dạy chữ và dạy hồn

áo cơm và nghề nghiệp

cái nhục và văn chương...

gió mấy luồng, xoáy lốc

chỗ đứng hóa băo bùng?


 

có nơi nào oan nghiệt

bằng trên bục giảng không?


 

ơi đôi điều ấm áp

cứ khiến ḷng ngập ngừng?


 

kiệt ḷng vẫn gắng sức

chẳng muốn ai coi thường?

ngỡ bôi vôi đóng tuồng

vở tồi vẫn luyện hát

hát cho hay, dẫu nhạt

đời có đỡ đau không...

dạy chữ c̣n hơn không...


 

ôi đóng tuồng, đóng tuồng?

phải vui dù chán chường

phải mừng dù phẫn uất

nên tinh thần chia cắt?

nên đau đớn tận óc

đến phát điên phát cuồng?

đến hoang tưởng lạ lùng?

như tấn tṛ ḱ quặc

cái ghê tởm, độc ác...

niềm khát vọng cháy bùng

tự do và sự thật

nhân phẩm và t́nh thương...


 

cả một thời chứa chất

những lực đời dồn ép

ám thành bức hại cuồng?


 

ôi chút ḷng trinh bạch

Kiều chừa, c̣n ngập bùn?

ơi những kẻ đóng tuồng

trong cơn đau bùn ngập?

c̣n đó, giữa đời thường

những trái tim tội nghiệp

đau thương với đau thương

có trách ǵ nhau không

vẫn c̣n đây lồng ngực

trước bạn bè, mở tung


 

sáu năm dài xa lắc

bạn bè hiểu nhau hơn?

giữ ḿnh, ai thường nhắc

nhớ chi cho đau ḷng!


 

nhớ chi cho muốn khóc

nhiều học tṛ quá ngoan

hót rất kêu kế hoạch

ca rất hay tổng kết

thầy giật ḿnh, kinh ngạc?

cô giật ḿnh, ôm mặt?

ngỡ thấy ḿnh trong gương!


 

sau nhiều năm ra trường

tṛ nhớ thầy, tặng sách

<em>''Con Voi''</em> và <em>''Sống Ṃn'' </em> (*)

cho thầy trào nước mắt


 

phân tích bao nhân vật

liên hệ (**) phải sượng sùng

cán bộ c̣n đến trách

sao con ḿnh đi rong!


 

chút niềm tin vỡ nát

hoang mang hóa ngông cuồng?

một khi ḷng đi lạc

bến bờ đâu mà dừng!


 

giữa bao điều cấm ngặt

che mắt nhau như bưng?

cũng tự ḿnh che mắt

chẳng ai nh́n xa hơn?


 

ai cúi đầu thấp nhất

trong thời sám hối chung?


 

dăm bài thơ đau xót

gửi vọng cao nguyên hồng

xin gửi đến sân trường

có cây thông tím ngắt

đă chết ngh́n hoàng hôn

xin đọc thầm và đốt

trên đất chôn nhau con


 

xin hát ru, măi hát

đến ngày con lớn khôn

chút ḷng ba tan nát

có ám đời con không?

lớn lên, mở rộng mắt

và lật xuôi ngược ḷng

lật trở cho sâu sắc

con trả lời cho con! (***)


 

ôi, đôi mắt đă khác

cái nh́n cũng đen hơn?

sao trĩu hồn trầm uất

tắt niềm tin, yêu thương?

biết đâu là sự thật

ba sững tim, ngơ ngác

cái Tâm, cần tĩnh hơn

hư cấu, trúng là trật

bệnh nặng - nghiệp văn chương?


 

có ai ḥng gỡ gạc

nhuộm đen cái nh́n hồng

có ai ḥng gỡ gạc

gieo vào ba vết thương

bàn tay ai đánh bật

trái tim thơ khỏi trường

có viên đạn trầm uất

bắn vào lương tâm không?

nửa đen là sự thật?

nửa đỏ có thật không?


 

ôi cái nh́n, đôi mắt

cũng có thể đổi khác

kính đỏ hay đen ng̣m?

độc dược hay hạt cơm?


 

cái đau, thơ mộc mạc

quên tuốt văn vẻ luôn

thơ trào ra đến ngạt

khi đôi chân đạp ngừng

một ḿnh cất tiếng hát

chỉ vắt sổ rối bung

ta nghe ḷng rưng rưng!


 

23.09.1988


 

<em> (*) “Con voi”: một truyện ngắn châm biếm của nhà văn Ba Lan, Mrozech.

Sống ṃn”: tiểu thuyết của nhà văn Việt Nam, Nam Cao.

(**) Liên hệ: Trong ngữ cảnh này, xin hiểu “liên hệ” là một trong những mục đích yêu cầu của một giáo án khi giáo viên giảng dạy. Khi giảng dạy, giáo viên phải thiết lập mối liên hệ giữa nội dung bài giảng với thực tế xă hội hiện thời. Chẳng hạn như giảng dạy về h́nh tượng cán bộ kháng chiến, h́nh tượng con người mới, cuộc sống mới, phải liên hệ đến những đối tượng ấy, có khi phải ngay tại cuộc sống địa phương. Nhưng hầu hết là phản tác dụng, v́ h́nh tượng trong tác phẩm văn chưong quá tô hồng, mà trong thực tế th́ … quá b́nh thường, thậm chí là tầm thường!

(***) Thủ pháp xới lật (xem xét mặt này, mặt kia…) là một thao tác trong nghiên cứu khoa học. <strong>Tuy nhiên, phải xới lật với cơ sở vững chắc là đạo lí dân tộc, công lí nhân loại, chứ không thể bất chấp mọi tiêu chí, giá trị phổ quát</strong>. Ví dụ trong "An Nam chí lược" của Lê Tắc, y gọi Trưng Trắc, Trưng Nhị, Triệu Thị Trinh, Mai Thúc Loan… là <strong>giặc</strong>, những kẻ tiếm thiết, chẳng hạn. Do đó, cần phải lật lại vấn đề, <strong>quân Hán – Hoa mới đích thực là giặc</strong>.</em>


 


 


 

<strong>ĐỊNH CƯ</strong>


 

bây giờ

có nhà thơ t́m đến rừng cây

nḥa ḿnh trong màu xanh sương khói

tự do phải mua ư!

thôi th́ đành phạm tội (*)

cam thân ở ẩn giữa rừng người?!


 

02.07.1991


 

<em> (*) Có nhà thơ phải phạm tội hối lộ để được nhập cư. </em>


 


 


 

<strong>ĐẾN BAO GIỜ</strong>


 

<em>"Tổ Quốc ơi, con đă nghe"</em>

đâu phải từ thuở mười lăm mười sáu tuổi

ai cũng từ ḷng mẹ yêu thương nóng hổi

ôm gh́ chiếc nhau ôm gh́ tảng đất thiết tha

đă nghe âm vang tiếng nói ông cha

từ lồng ngực mẹ

Tổ Quốc ơi! Con Người ơi!

T́nh Yêu Lớn có trong ta như thế!

trên mảnh Đất Vàng

tung tăng đôi chân thời tấm bé

đất và màu da

sâu thẳm, cội nguồn

Tổ Quốc gieo ra bao hạt mầm nho nhỏ

măi bừng lên mùa xuân nối tiếp mùa xuân

cho một đời ta gắn bó

đâu chỉ thuở mười lăm mười sáu đó

ôi, quá đỗi thâm trầm

tiếng gọi thiêng liêng cất lên giữa thời máu lửa

và <em>"Tổ Quốc ơi, con đă nghe!"</em>


 

cảm ơn người thầy d́u dắt chúng ta đi

giữa lớp học nhập nḥa, lóe lên bao tia sự thật

cổng trường căng áp phích như cởi tung lồng ngực

những trái tim cháy bùng khát vọng:

Tự Do

ta đă đến bao ngôi trường ngoại ô

báo trong tay, ngạo nghễ vung cao:

<em>"Tự Do hay là chết!"</em>

trăm tờ báo vụng về không chứa hết

niềm tin đánh thức: Tự Do

phải có Tự Do để giành lại muôn ngh́n Cái Đẹp


 

những quầy sách,

báo ta giăng,

ngời nét mực

<em>Đất và Màu Da ơi! con đă nghe!</em>


 

<em>"Tổ Quốc ơi! con đă nghe!"</em>

đâu chỉ là cơn gió thoảng thời học tṛ thoáng chốc

măi đậm thêm trong ta Tổ Quốc

mảnh đất quư yêu, màu da vàng sáng rực


 

bao năm qua, bao năm qua

bị huyễn hoặc rồi tự ḿnh huyễn hoặc!

phải cất cao thơ như ngọn đuốc

chiến lũy của thơ muôn đời là Sự Thật

đến bao giờ? đến bao giờ?


 

có lẽ nào ĺa xa Tổ Quốc

để chọn quê chung là Trái Đất?

ở nơi đâu, dù ở nơi đâu

Tổ Quốc vẫn trong ḷng da diết đớn đau!

ôi Tổ Quốc! Đất và Màu Da!

chọn lựa nào cũng cam đành mất mát

có phải tự do dân chủ là đối lập?


 

vinh danh muôn đời thống nhất và đối lập (*)

tại sao cần đối lập?

phải chăng ảo vọng của bao người bị bức bách?

lũ kên kên nào c̣n lượn lờ quanh Tổ Quốc chúng ta?

ôi Tự Do, Độc Lập

đến bao giờ?


 

18.10.1988 (**)


 

<em> (*) <strong>Lưỡng đảng đối lập</strong> có chung một lập trường giai cấp (hoặc tư sản, hoặc vô sản) măi măi vẫn là cơ chế dân chủ, nhưng đó không phải là cơ chế dân chủ nhất. Ở các nước thuộc loại lớn về lănh thổ, "siêu cường" về kinh tế, công nghệ, không sợ nạn ngoại xâm, chỉ khi thực thi cơ chế đa đảng đối lập, chấp nhận mọi lập trường giai cấp, ư hệ, mới thực sự tương xứng với tầm vóc. Nếu không, sẽ bị quy vào loại "to xác, nhưng tŕnh độ dân chủ thiểu năng". C̣n ở các nước nhỏ và chưa giàu mạnh, có lẽ <strong>cơ chế lưỡng đảng đối lập trong tính thống nhất về lập trường giai cấp, dân tộc</strong> như trên là thích hợp. Chuyên chế độc đảng chỉ dẫn đến tŕ trệ về trí tuệ, khốn khổ về vật chất và cuối cùng là sụp đổ như một tất yếu (Nga - Liên Xô là một cảnh báo nhăn tiền). Nhưng các nuớc nhỏ vẫn c̣n một âu lo lớn: nạn đế quốc, thực dân, bá quyền vàng hoặc đỏ xâm lược...

(**) Có lẽ cũng cần viết thêm một ghi chú nhỏ: Trong bài thơ này, có những tháng năm qua khứ được hồi tưởng lại… Tuy nhiên, cuộc sống của nhiều người, trong hiện tại, có khi không c̣n như những ngày xa xưa ấy.

(Bổ sung: 3-2006). </em>

______________________


 

<em>Trích từ tập thơ “Giọt mực, cánh đồng và vở kịch điên” (Trần Xuân An), hoàn tất bản thảo vào năm 1998; đă được đăng tải / xuất bản trọn vẹn trên Tạp chí điện tử Giao Điểm, số tháng 9-2005 :

<strong><a href="http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_III05/905_index.htm">http://www.giaodiem.com/mluc/

mluc_III05/905_index.htm</a></strong></em>


 

<em>Thứ sáu (thứ bảy cũ), 04-3 HB6 ( 2006 )

[ mùng 5-2, Bính tuất HB6 ],

tại Việt Nam, TP. HCM.

TXA.</em>


 

4


 

3/07/2006 GÓP VÀO THỜI CUỘC ĐÔI ĐIỀU


 

5


 

<strong>THÔNG BÁO VỀ <em>ĐỊA ĐIỂM WEB</em> MỚI</strong>


 


 

<strong><em><a href="http://c.1asphost.com/TrXuanAn/an/an_index.htm">WEBSITE TRẦN XUÂN AN</a> :</strong></em>

<a href="http://c.1asphost.com/TrXuanAn/an/an_index.htm">http://c.1asphost.com/TrXuanAn/an/an_index.htm</a>


 

<strong><em><a href="http://c.1asphost.com/TrXuanAn/an/trangcnncthoi.htm">TRANG CỦA NHỮNG NGƯỜI CÙNG THỜI</a> :</strong></em>

<a href="http://c.1asphost.com/TrXuanAn/an/trangcnncthoi.htm">http://c.1asphost.com/TrXuanAn/

an/trangcnncthoi.htm</a>


 

Trân trọng kính mời và thân ái gọi mời quư nhà thơ, nhà văn, nhà nghiên cứu (các bậc lớn tuổi và cùng trang lứa, bạn bè, đặc biệt là những người trẻ) tham gia vào <em>"Trang của những người cùng thời"</em> bằng cách gửi bài đă đăng ở các báo, tạp chí (đă xếp chữ vi tính, hệ mă <strong>unicode</strong>) về địa chỉ điện thư (e-mail):


 

<strong>tranxuanan_vn@yahoo.com</strong>


 

Xin xem thêm thông báo chi tiết trong <em><strong>"Lời thưa chung về trang của những người cùng thời"</em></strong> (bấm vào <em>link</em> thứ hai, phía trên).


 

Cũng xin thông báo trước: <strong><em>Địa điểm web</strong></em> (website) này, gồm cả <strong><em>trang web</strong></em> (webpage) tuyển chọn & giới thiệu tác phẩm của những người cùng thời nói trên, đang ở trong giai đoạn thử nghiệm [ <em>trương mục tại cơ sở chủ quản (host account)</em> cũng thuộc loại miễn phí (free); chưa có <em>tên miền (domain name)</em> ]. Người phụ trách trang web mong chờ sự góp ư để nó có thể được xây dựng và bảo tŕ vững chắc, lâu dài, măi măi.


 


 

<em>Việt Nam, TP.HCM.,

thứ nhất (thứ hai cũ), ngày 13-03 HB6 ( 2006 )

[ 14-02 Bính tuất HB6 ],</em>

Trân trọng và thân ái,

<strong><em>Trần Xuân An</strong></em>


 

_______________________


 


 

<em>Thứ hai (thứ ba cũ), ngày 14-03 HB6 ( 2006 ):</em>

<em>Đă thử đưa lên (uploaded) mạng liên thông (internet) cùng với <strong>vị trí web</strong> này. Địa chỉ <strong>trang web</strong> là:</em>


 

<strong><a href="http://c.1asphost.com/TrXuanAn/an/ngau_hdtho.htm">TRẦN XUÂN AN - NGẪU HỨNG ĐỌC THƠ</a></strong>

<strong><a href="http://c.1asphost.com/TrXuanAn/an/ngau_hdtho.htm">http://c.1asphost.com/TrXuanAn/

an/ngau_hdtho.htm</a></strong>


 

TXA.


 

________________________


 


 

Cảm ơn cử nhân tin học LÊ VĨNH SƠN (sonhue) [Công ti Lạc Việt], về việc đă thiết kế giúp một bản khác của <strong><a href="http://c.1asphost.com/TrXuanAn/txa/Index.htm">WEBSITE TRAN XUAN AN</a></strong> với nhiều h́nh ảnh, hoa văn trang trí:


 

<strong><a href="http://c.1asphost.com/TrXuanAn/txa/Index.htm">http://c.1asphost.com/TrXuanAn/txa

/Index.htm</a></strong>


 

(có thể bấm vào link trên, nếu máy vi tính của người đọc đang sử dụng ADSL)


 

Sau đây là đường nối kết ( LINK ) chung của cả hai links và cũng là <a href="http://c.1asphost.com/TrXuanAn/2_links_index.htm">LINK CHÍNH của WEBSITE TRẦN XUÂN AN</a>:


 

<strong><a href="http://c.1asphost.com/TrXuanAn/2_links_index.htm">http://c.1asphost.com/TrXuanAn/

2_links_index.htm</a></strong>


 

( chỉ cần lưu ư LINK CHÍNH ).


 


 

Thứ ba (thứ tư cũ), 15-03 HB6 ( 2006 )

[ 16-02 Bính tuất HB6 ],


 

TXA.


 

________________________


 

<em>Thứ năm (thứ sáu cũ), ngày 17-03 HB6 ( 2006 )

[ 18-02 Bính tuất HB6 ] & 19 g 14', 18-03 HB6 :</em>

Đă đưa lên website thử nghiệm:


 

<strong>NẮNG VÀ MƯA</strong> (tập thơ, 1991)

<strong><a href="http://c.1asphost.com/TrXuanAn/an/nang_vmua.htm"> http://c.1asphost.com/TrXuanAn/an/nang_vmua.htm</a></strong>


 

<strong>HÁT CHIÊU HỒN M̀NH</strong> (tập thơ, 1992)

<strong><a href="http://c.1asphost.com/TrXuanAn/an/hat_chminh.htm"> http://c.1asphost.com/TrXuanAn/an/hat_chminh.htm</a></strong>


 

<strong>TÔI VẪN Ở TRÊN ĐƯỜNG</strong> (tập thơ, 1993)

<strong><a href="http://c.1asphost.com/TrXuanAn/an/toi_votduong.htm"> http://c.1asphost.com/TrXuanAn/an/toi_votduong.htm</a></strong>


 

<strong>LẶNG LẼ Ở PHỐ</strong> (tập thơ, 1995)

<strong><a href="http://c.1asphost.com/TrXuanAn/an/lang_lopho.htm"> http://c.1asphost.com/TrXuanAn/an/lang_lopho.htm</a></strong>


 

& <strong>KẺ BỊ NÉM VÀO BĂO</strong> (tập thơ, 1995) (19 g 14', 18-03 HB6)

<strong><a href="http://c.1asphost.com/TrXuanAn/an/ke_bnvbao.htm">http://c.1asphost.com/TrXuanAn/

an/ke_bnvbao.htm</a></strong>


 

Tốt nhất, người đọc ưu ái cứ tiếp tục đọc ở các địa chỉ web vốn có (Tcđt. Giao Điểm, Blogger [Google], MSN. Search, Yahoo Search, Google Search...).

Lí do cũng thật đơn giản:

1. Rất tiếc là chưa có cơ sở nào để tôi xác định website ( / free host account) này có thể được sử dụng lâu dài, vĩnh viễn, một cách vững bền.

2. Ngoài ra, ở Việt Nam chúng ta, cho đến nay, tuy là tác giả, tôi và tất cả các nhà văn, nhà nghiên cứu vẫn c̣n bị một hạn chế khác - hạn chế về quyền tự xuất bản, phát hành trên mạng liên thông quốc tế.

3. Vả lại, mục đích chủ yếu của việc thực hiện website này (bản chỉ có chữ cùng những h́nh vẽ đơn sơ theo <em>"Word"</em>) là để thuận tiện, nhanh chóng trong việc truy cập đối với quư độc giả ở những nơi chưa có điều kiện sử dụng đường tải truyền tốc độ cao (ADSL.).


 

Trân trọng & cảm ơn.

TXA.


 

______________________


 


 

<em>Thứ bảy (chủ nhật cũ), ngày 19-03 HB6 ( 2006 )

[ 20-02 Bính tuất HB6 ]:</em>


 

<strong>SUY NGHĨ VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG LỊCH SỬ CỔ ĐẠI NƯỚC TA</strong>

<strong><a href="http://c.1asphost.com/TrXuanAn/an/suy_nvmsvdtlscdnta.htm"> http://c.1asphost.com/TrXuanAn/an/suy_nvmsvdtlscdnta.htm</a></strong>


 

TXA.


 

_____________________


 


 

<em>Thứ nhất (thứ hai cũ), ngày 20-03 HB6 ( 2006 )

[ 21-02 Bính tuất HB6 ]:</em>


 

<strong>HÁT VỚI ĐỜI ƠI THƯƠNG MẾN</strong> (tập thơ, 1996) (17 g 58', 21-03 HB6)

<strong><a href="http://c.1asphost.com/TrXuanAn/an/hat_vdotmen.htm"> http://c.1asphost.com/TrXuanAn/an/hat_vdotmen.htm</a></strong>


 

TXA.


 

_____________________


 

<em>Thứ hai (thứ ba cũ), ngày 21-03 HB6 ( 2006 )

[ 22-02 Bính tuất HB6 ]:</em>


 


 

<strong>QUÊ NHÀ YÊU DẤU</strong> (tập thơ, 1998)

<strong><a href="http://c.1asphost.com/TrXuanAn/an/que_nydau.htm">http://c.1asphost.com/TrXuanAn/an/

que_nydau.htm</a></strong>


 

<strong>THƠ NHỮNG MÙA HƯƠNG</strong> (tập thơ, 1998)

<strong><a href="http://c.1asphost.com/TrXuanAn/an/tho_nmuahuong.htm">http://c.1asphost.com/TrXuanAn/

an/tho_nmuahuong.htm</a></strong>


 

<strong>GIỌT MỰC, CÁNH ĐỒNG VÀ VỞ KỊCH ĐIÊN</strong> (tập thơ, 1997)

<strong><a href="http://c.1asphost.com/TrXuanAn/an/giot_mcdvvkdien.htm">http://c.1asphost.com/TrXuanAn/

an/giot_mcdvvkdien.htm</a></strong>


 


 

Như vậy, đến ngày hôm nay, tôi đă đưa lên website thử nghiệm này được chín tập thơ, một tập phê b́nh thơ và một tập khảo luận sử học.


 

Trân trọng & cảm ơn.

TXA.


 

__________________________


 


 

<em>Tối thứ sáu (thứ bảy cũ) và sáng thứ bảy (chủ nhật cũ),

ngày 25 & 26-03 HB6 ( 2006 ),</em>

tác giả đă đưa lên website này thêm một tiểu thuyết:

<strong>NGÔI TRƯỜNG THÁNG GIÊNG</strong>

<strong><a href="http://c.1asphost.com/TrXuanAn/an/ngoi_ttgieng.htm">http://c.1asphost.com/TrXuanAn/

an/ngoi_ttgieng.htm</a></strong>


 

và một vài câu thông báo như sau ở phần phụ lục:

Tác giả chỉ mới đưa lên website này 12 tác phẩm (trong đó có 9 tập thơ, một cuốn phê b́nh thơ, 1 cuốn khảo luận sử học và 1 tiểu thuyết).

Phần phụ lục, xin xem ở cuốn MÙA HÈ BÊN SÔNG (theo dự định, tác giả sẽ bổ sung vào những bài viết vừa đăng trên Tạp chí điện tử BBCVietnamese và Tạp chí điện tử Giao Điểm trong tháng 3 HB6 [ 2006 ]):

1.

<a href="http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2006/03/060307_tranxuanan.shtml">http://www.bbc.co.uk/

vietnamese/forum/story

/2006/03/060307_tranxuanan.shtml</a>


 

(bài viết, bài trả lời của TXA. cùng những ư kiến thảo luận của nhiều độc giả)

( link Diễn đàn BBC: <strong>http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/</strong> )

2.

<a href="http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_I06/306_txa-dadang.htm">http://www.giaodiem.com/

mluc/mluc_I06/306_txa-dadang.htm</a>

(cũng là bài viết trên của TXA.;

và bài trao đổi với TXA. của Nguyễn [Sài G̣n]:

<a href="http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_I06/306_ykien-nguyen.htm">http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_I06/306_ykien-nguyen.htm</a> )


 

Trân trọng khẳng định chủ kiến xây dựng

& thành thật cảm ơn.

TXA.


 

_________________________


 


 

<em>Thứ năm (thứ sáu cũ), ngày 07 tháng 4 HB6 ( 2006 )

[ 10 tháng 3 Bính tuất HB6 ],</em>


 

Người biên soạn (Trần Xuân An) đă đưa lên

" <a href="http://c.1asphost.com/TrXuanAn/2_links_index.htm">Website TRAN XUAN AN</a> "

thêm một cuốn sách (trọn vẹn gồm 12 tệp):

<strong>TIỂU SỬ BIÊN NIÊN KỲ VĨ PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN NGUYỄN VĂN TƯỜNG (1824 - 1886)</strong>


 

<strong><a href="http://c.1asphost.com/TrXuanAn/an/tieu_sbnpcdtnvtuong.htm">http://c.1asphost.com/TrXuanAn/

an/tieu_sbnpcdtnvtuong.htm</a></strong>


 

Nếu máy vi tính của quư người đọc đang vận hành với đường truyền tải tốc độ cao [ADSL], quư vị cũng có thể xem ở BLOGGER (hoặc ở các trang t́m kiếm của Google, MSN., Yahoo) với templates rất đẹp:


 

<strong>http://tranxuanantsbnnvt.blogspot.com/</strong>

<strong>http//tranxuanantsbnnvt2.blogspot.com/</strong>


 

<em><strong>Có điều rất đáng tiếc là weblog thứ hai đang bị sự cố kĩ thuật mà BLOGGER chưa kịp khắc phục để weblog ấy được hiển thị lại. Nhân đây, cũng xin bày tỏ lời trông mong đó, kính gửi đến BLOGGER (GOOGLE). Kính cảm ơn.</strong></em>


 

Trân trọng,

TXA.


 

6


 

3/28/2006 BAI VIET CUA NGUOI CUNG THOI


 

7


 

<strong>diễn đàn

WEBSITE TRẦN XUÂN AN</strong>

- khai trương trang này từ ngày 12 - 03 HB6 ( 2006 )

- các tác giả, độc giả tham gia thảo luận tự giữ bản quyền của ḿnh


 

<strong>+++ Tháng 12 - HB5 ( 2005 ) & tháng 01 - HB6 ( 2006 ):</strong>


 

Tạp chí điện tử Giao Điểm tháng 12 - HB5 ( 2005 ):

<strong>http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_IV05/1205_txa-duonglich.htm</strong>

Tạp chí điện tử Giao Điểm tháng 01 - HB6 ( 2006 ):

<strong>http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_I06/106_txa-tiengNambo.htm</strong>


 

_____________________


 

<strong>+++ Tháng 03 - HB6 ( 2006 ):</strong>


 

Tạp chí điện tử BBCVietnamese và Tạp chí điện tử Giao Điểm trong tháng 3 HB6 [ 2006 ]:

1. <a href="http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2006/03/060307_tranxuanan.shtml">http://www.bbc.co.uk/

vietnamese/forum/story/2006/03/060307

_tranxuanan.shtml</a>

(bài viết, bài trả lời của TXA. cùng những ư kiến thảo luận của nhiều độc giả)

( link Diễn đàn BBC: <strong>http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/</strong>

hoặc <strong>BBCVietnamese Search</strong> )

2.

<a href="http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_I06/306_txa-dadang.htm">http://www.giaodiem.com/mluc/

mluc_I06/306_txa-dadang.htm</a>

( cũng là bài viết trên của TXA.;

và bài trao đổi với TXA. của Nguyễn [Sài G̣n]:

<a href="http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_I06/306_ykien-nguyen.htm">http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_I06/306_ykien-nguyen.htm</a> ;

bài trao đổi của Trần Nguyễn Dụng [TP. HCM.]:

<a href="http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_I06/306_ykien-2parties.htm">http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_I06/306_ykien-2parties.htm</a> ;

bài của giáo sư Trần Chung Ngọc [Hoa Kỳ], có đề cập đến bài viết của TXA.:

<strong>http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_I06/306_daihoiX-tcn.htm</strong> )


 

____________________


 

Trong đối thoại, tốt nhất là xin đọc tất cả những bài viết của các tác giả b́nh luận, trao đổi trong ư hướng ủng hộ hoặc phê phán nhau.

Tôi không có ư định phủ nhận những ǵ đă viết.


 

Nhân đây, cũng thêm một lần nữa nói rơ: Trong tinh thần dân chủ đích thực, cụ thể ở đây là đối thoại dân chủ, tôi luôn luôn ủng hộ những chính thể nào chấp nhận trên hiến pháp, pháp luật, và cả trong thực tiễn đời sống, sự hiện hữu của những người bất đồng chính kiến với nhà cầm quyền. <em><strong>Tôi muốn nói đến những người bất đồng chính kiến v́ tinh thần trách nhiệm và với ḷng yêu nước trong sáng, không phải là những tên tay sai cho bất ḱ thế lực nào, ngoại bang nào (*).</strong></em>

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao nước CHXHCN. Việt Nam trong một dịp gần đây, cũng khẳng định trước công luận thế giới, đại ư: Hiện nay, không có người bất đồng chính kiến nào bị tù tội bởi công an của Nhà nước CHXHCN. Việt Nam. Phải chăng đó không phải là lời phát biểu có tính chất "đối phó", chạy tội "chụp mũ" để bắt giam, xét xử kín, thi hành án người bất đồng chính kiến chân chính, nhằm đánh lừa công luận thế giới? Và nếu đúng như vậy, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao nước ta <strong>mặc nhiên</strong> khẳng định Đảng CS. Việt Nam, Nhà nước CHXHCN. Việt Nam <strong><em>chấp nhận sự hiện hữu hợp pháp của những người bất đồng chính kiến trong khuôn khổ hiến pháp và luật pháp hiện hành (*). Nhưng oái oăm là trong nước không có một tờ báo, nhà xuất bản hợp pháp nào thật sự của những người bất đồng chính kiến cả!</em></strong> Tất cả các tờ báo, nhà xuất bản trong nước đều là <strong><em>công cụ</em></strong> của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước CHXHCN. Việt Nam! Phải chăng đó là sự thừa nhận sự thể gửi bài lai cảo, bản thảo sách ra nước ngoài (một dạng "vượt biên tinh thần")? Không có một văn bản có tính pháp luật nào ghi rơ điều khoản ấy! Phải chăng đó là sự ấm ớ hoặc bất cập của hiến pháp, pháp luật? Phải chăng bất đồng chính kiến ở nước ta là phải "cúi đầu làm thinh"?

Nhân dân nói chung, giới cầm bút và những người bất đồng chính kiến nói riêng, nếu chỉ biết "cúi đầu làm thinh", không lên tiếng, nhân dân và họ sẽ bị chính Đảng CS. Việt Nam và Nhà nước CHXHCN. Việt Nam quy vào loại <strong><em>"không biết phát huy quyền làm chủ của công dân"</em></strong> hay <strong><em>"dân trí thấp"</em></strong>, mỗi khi có sự lên án của công luận quốc tế về sự bóp nghẹt các quyền tự do dân chủ chân chính, nhất là về lĩnh vực báo chí, xuất bản!

V́ vậy, tôi không có ư định phủ nhận những ǵ đă viết. Đồng thời, xin chân thành cảm ơn các tác giả, độc giả đă ủng hộ (**), đặc biệt là cảm ơn Tạp chí điện tử BBCVietnamese và Tạp chí điện tử Giao Điểm đă đăng tải và sẽ tiếp tục đăng tải các bài viết của tôi và các tác giả khác (những người hiện đang sống tại Việt Nam) (***), cho đến khi hiến pháp, pháp luật được tu chính cho thật cụ thể, chi tiết và rơ ràng, minh bạch.


 

Trân trọng khẳng định chủ kiến xây dựng

& một lần nữa, thành thật cảm ơn.

TXA.

__________________


 

<em>(*) Diễn đạt cách khác: những người đối lập -- thống nhất (đối lập trong tính thống nhất).

(**) Nguyễn (Sài G̣n), Trần Nguyễn Dụng (bài đăng trên Tcđt. Giao Điểm, tháng 3 HB6 [ 2006]).

(***) Dĩ nhiên, việc xuất bản thành sách in giấy là rất cần thiết.</em>


 

__________________


 

PHẢN HỒI (07 tháng 4 HB6 [ 2006]):


 

1


 

Tối hôm qua (06-03 HB6 [ 2006 ]), tôi nhận được những thông tin phản hồi từ những người đọc kính mến và thân ái, với câu hỏi gần như khẳng định: Nguyễn (Sài G̣n), Trần Nguyễn Dụng cũng chính là Trần Xuân An!?! Phải chăng Trần Xuân An tạm thời lấy hai bút danh đó để trả lời những ư kiến, những bài viết tham gia thảo luận, có ư công kích hoặc cố chấp của một vài độc giả, của một vài tác giả khác, và đồng thời Trần Xuân An mở rộng những ư tưởng đă viết ở bài chính?

Xin thật thà đáp: Vâng.

Và mong được thông cảm. V́ với cách đó (tạo "bóng ảo" để "chia lửa", một thủ thuật thường thấy của báo chí), không khí thảo luận không đến nỗi căng thẳng lắm ...


 

2


 

Cũng có một ư kiến phản hồi của những người đọc kính mến và thân ái: Làm thế nào để h́nh thành một ư thức chính trị -- xă hội về văn hóa đối lập -- thống nhất trong mọi tầng lớp nhân dân? Cần nói rơ: đó là <em><strong>tinh thần "thượng vơ"</strong></em> quanh những bàn cờ tướng.

Quả thật, từ rất lâu, với quan điểm "bạo lực là trên hết", rất nhiều người nghĩ rằng, các h́nh thức đối lập chính kiến nhất loạt đều là đấu tranh giai cấp có đổ máu hay đối kháng phe phái nhằm triệt tiêu lẫn nhau. Mặt khác, người ta quy tất thảy những dạng thức đối lập trong chung sống ḥa b́nh là biểu hiện thái độ của những người tiểu tư sản trí thức (với nghĩa xấu: hèn nhát, nửa vời, cải lương chủ nghĩa... [*]). Và cũng từ rất lâu, trong xă hội có một t́nh trạng bị thâm nhiễm tư tưởng cực quyền và h́nh thành một ư thức, thái độ: đối lập (bất đồng chính kiến) với nhà cầm quyền (đảng cộng sản và nhà nước chuyên chế) có nghĩa là <em><strong>trở thành kẻ thù, không nên quan hệ v́ sẽ bị liên lụy.</strong></em>

Đối lập chính kiến trong tính thống nhất thật ra là một biểu hiện của một tầm văn hiến cao của một chế độ thực sự tự do, dân chủ. Nói cụ thể hơn: Hai lực lượng đối lập của lưỡng đảng đối lập -- thống nhất vừa đấu tranh với nhau rất quyết liệt trên diễn đàn trong không khí văn hóa tranh luận, nhưng đồng thời vẫn rất tôn trọng nhau, biết chấp nhận chân lí và sự thật, không ngoan cố, không tự thị, vẫn hỗ trợ nhau, đúng với <strong><em>tinh thần thượng vơ chân chính</em></strong> của hai vơ sĩ trên vũ đài, của hai đối thủ ở hai bên bàn cờ tướng cùng với ủng hộ viên của hai phe.

Đến bao giờ ở nước ta đạt được tầm văn hiến chính trị -- xă hội ấy?


 

Thành thật cảm ơn.

TXA.


 

______________


 

<em>(*) Đây không phải là thái độ đối với bọn ngoại bang xâm lược, mà giữa những người trong một cộng đồng dân tộc trong điều kiện xă hội của một đất nước độc lập. </em>


 

______________


 


 

<em>(**) <strong>Tối 09 tháng 4 HB6 ( 2006 )</strong>, bổ sung ở phần chú thích này thêm một bài thơ, viết về tư tưởng của Mạnh Tử, "dân vi quư, xă tắc thứ chi, quân vi khinh", với sự vận dụng vào mỗi đất nước -- xă hội dân chủ hiện đại (lưỡng đảng đối lập trong tính thống nhất xă hội chủ nghĩa và dân tộc chủ nghĩa):


 

KÍNH TẶNG MẠNH TỬ


 

nhân dân là thượng đế hay hoàng đế

trước bàn cờ vua cờ tướng – cơi đời?

khát vọng ngàn năm đông tây nam bắc

với cuộc chơi nhưng không phải cuộc chơi!


 

1993

(Trần Xuân An, "Tôi vẫn ở trên đường", Nxb. Văn Nghệ, 1993).</em>


 

 

________________________

________________________

 


 

<em><strong>12 tháng 4 HB6 ( 2006 )

[ ngày rằm tháng 3 Bính tuất HB6 ]</strong>.</em>


 

LÀM RƠ MỘT Ư TƯỞNG TRONG MỘT BÀI VIẾT:


 

<strong>“VỀ CÁC PHƯƠNG ÁN THỰC TIỄN CỦA NỀN DÂN CHỦ LƯỠNG ĐẢNG ĐỐI LẬP – THỐNG NHẤT”</strong>, với bút danh tạm thời là Trần Nguyễn Dụng


 

<a href="http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_I06/306_ykien-2parties.htm">http://www.giaodiem.com/mluc/mluc_I06/306_ykien-2parties.htm</a>


 


 

Trong phần cuối của bài viết, tôi đă thể hiện thái độ của ḿnh, đó là ḷng yêu thích câu danh ngôn của Voltaire: <em>“Mặc dù khác quan điểm của bạn, nhưng tôi vẫn đấu tranh đến chết để bạn được phát biểu ư kiến của chính bạn”</em>.


 

Ai cũng biết Voltaire (1694 – 1778) là một văn hào Pháp, người đă mỉa mai, phê phán Thiên Chúa giáo. Chính danh ngôn ấy đă thể hiện một trong những tư tưởng làm nền móng của Thế kỉ Ánh sáng trong lịch sử nước Pháp và châu Âu, tạo nên ảnh hưởng lan tỏa khắp toàn cầu về nhân quyền, dân quyền (tự do, dân chủ), đặc biệt là tinh thần tôn trọng chủ kiến, gồm cả chính kiến (chủ kiến chính trị) của mỗi cá thể công dân.


 

Tuy vậy, thiết tưởng cũng cần làm rơ, mặc dù ư tưởng trong phần cuối bài viết ấy không phải bị diễn đạt mù mờ.


 

Tôi có bày tỏ sự tán đồng với ư kiến của các tác giả Nguyễn Quang A, Lê Quốc Quân, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Tiến Trung về ư hướng <em>“đa nguyên, đa đảng”</em> (hoặc chỉ “đa nguyên”) và chỉ giới hạn trong 4 chữ ấy mà thôi, trên cơ sở câu danh ngôn: <em>“mặc dù khác quan điểm của bạn, nhưng tôi vẫn đấu tranh đến chết để bạn được phát biểu ư kiến của chính bạn”</em> (xin hiểu chữ <em>“bạn”</em> này ở nghĩa rộng). C̣n ư tưởng “đa nguyên, đa đảng” của tôi như thế nào, tôi đă tŕnh bày rơ qua các bài viết kí tên thật (Trần Xuân An) và các bút hiệu tạm thời (Nguyễn [Sài G̣n], Trần Nguyễn Dụng).


 

Có một điều rất đáng tiếc là nhà thơ thân mến và rất có tài về thơ ca là Trần Mạnh Hảo đă đặt bút kí vào bản <em>“Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006”</em> (8-4-2006) cùng với 117 người khác, hầu hết là giáo dân, linh mục Thiên Chúa giáo, tín đồ, mục sư Tin Lành, đạo hữu, chức sắc Phật giáo Ḥa Hảo. Tôi thấy cần thiết phải bày tỏ sự đáng tiếc này về nhà thơ Trần Mạnh Hảo. Và về các vị chân tu lập đức, ḷng ngưỡng mộ của tôi đối với họ, chính là các tu sĩ Phật giáo người Việt Nam chân chính.


 

Tôi thấy cũng cần nhấn mạnh câu này: <strong><em>Tôi chỉ là một người cầm bút với ước vọng duy nhất là lập ngôn và chỉ duy nhất lập ngôn bằng các trước tác của ḿnh</em></strong>. Với ư hướng, có những điều người lập ngôn mạnh dạn nêu ra, lắm khi chỉ nhắm đến tương lai và vĩnh cửu, tôi không phủ nhận tư tưởng <strong><em>lưỡng đảng đối lập trong tính thống nhất xă hội chủ nghĩa và dân tộc chủ nghĩa (trong khuôn khổ hiến pháp, luật pháp)</em></strong>. Tôi không dính líu đến các tổ chức chính trị và các hoạt động chính trị (đúng nghĩa của từ ngữ). Dĩ nhiên, trừ việc cầm bút, đăng báo, xuất bản sách, một công việc không thể không thể hiện thái độ chính trị của người viết, vốn được nhiều người cho rằng, <em>“viết cũng là một hành động”</em>. Nhưng chữ nghĩa luôn luôn là <em>“giấy trắng mực đen”</em>.


 

Xin chấm dứt vấn đề này ở đây.


 

Trân trọng.

TXA.


 

<em>12 tháng 4 HB6 ( 2006 )

[ ngày rằm tháng 3 Bính tuất HB6 ].</em>


 

_____________________

=====================

_____________________

=====================


 

XIN GHI CHÚ THÊM MỘT VÀI D̉NG NGOÀI ĐỀ

Ở KHUNG FILE NÀY:


 

<strong>Tối 12 tháng 4 HB6 ( 2006 )

[ ngày rằm tháng 3 Bính tuất HB6 ]</strong>


 

+++ Thành thật cảm ơn BLOGGER về việc đă khắc phục sự cố kĩ thuật internet xảy ra ở web-blog:

<strong>TIỂU SỬ BIÊN NIÊN PCĐT. NGUYỄN VĂN TƯỜNG (1824 - 1886) [phần 2]</strong>

<a href="http://tranxuanantsbnnvt2.blogspot.com/">http://tranxuanantsbnnvt2.blogspot.com/</a>

Web-blog này đă được hiển thị lại vào sáng hôm nay.


 

+++ Cũng có thể đọc cuốn sách trên (gồm cả 2 phần, I & II) tại:

<a href="http://c.1asphost.com/TrXuanAn/an/tieu_sbnpcdtnvtuong.htm">http://c.1asphost.com/TrXuanAn/

an/tieu_sbnpcdtnvtuong.htm</a>


 

Trân trọng,

TXA.


 

8


 


 

<strong>Bộ sách

"PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN NGUYỄN VĂN TƯỜNG (1824 - 1886)"</strong>


 


 

<strong>(Thông báo về "Website Trần Xuân An")</strong>


 

Sau đây, xin thông báo tiếp:

Trong các ngày từ 13 đến 15 tháng 4 HB6 ( 2006 ), tôi đă đưa lên "Website Trần Xuân An" bộ sách "PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN NGUYỄN VĂN TƯỜNG (1824 - 1886)" (Nxb. Văn Nghệ TP.HCM., 2004), trọn bộ 4 tập (985 trang sách, cỡ 16 cm x 24 cm), để phục vụ những người đọc chưa có điều kiện sử dụng ADSL.:


 

<a href="http://c.1asphost.com/TrXuanAn/2_links_index.htm">http://c.1asphost.com/TrXuanAn/

2_links_index.htm</a>


 

<strong><a href="http://c.1asphost.com/TrXuanAn/an/phu_cdtnvtuong.htm">http://c.1asphost.com/TrXuanAn/

an/phu_cdtnvtuong.htm</a></strong>


 


 

Trân trọng.

<strong>Trần Xuân An</strong>


 

9


 

4/20/2006 ONG PHAM THE DUYET CUNG THAM GIA THAO LUAN TREN <em>BBCVIETNAMESE</em> [& cac phat bieu cua ong PHAM VAN NGHI, ong LE HONG ANH]


 

10


 

4/26/2006 CHẤP NHẬN LẮNG NGHE Ư KIẾN PHÊ PHÁN GAY GẮT [ong NONG DUC MANH]


 

11


 

THÔNG BÁO VỀ VIỆC <em>" WEBSITE TRẦN XUÂN AN "</em> BỊ "BIẾN" MẤT

TỪ BUỔI TỐI 28-04-2006 ( HB6 )


 


 

TÔI NGHĨ RẰNG ĐÂY LÀ MỘT SỰ CỐ INTERNET <em><strong>(không những biến mất website mà ADSL cũng bị ngắt)</em></strong> DO NHỮNG TIN TẶC (HACKER) GÂY RA, GÂY PHIỀN TOÁI CHO ASPHOST VÀ BẢN THÂN TÁC GIẢ LÀ TÔI.


 

KÍNH MONG <strong>ASPHOST ( http://c.1asphost.com )</strong> QUAN TÂM KHẮC PHỤC SỰ CỐ ĐÁNG TIẾC ẤY VÀ CHO WEBSITE CỦA TÔI ĐƯỢC HIỂN THỊ LẠI.


 

SAU ĐÂY LÀ NHỮNG TRANG THUỘC " WEBSITE TRẦN XUÂN AN ", <strong>MSN SEARCH</strong>

 

[ <a href="http://search.msn.com/results.aspx?q=site:c.1asphost.com+%22Tr%e1%ba%a7n+Xu%c3%a2n+An%22&FORM=MSRE">http://search.msn.com/results.aspx?q=site:c.1asphost.com+%22Tr%e1%ba%a7n+Xu%c3%a2n+An%22&FORM=MSRE</a> ]


 

<strong>C̉N LƯU TRỮ ĐƯỢC (CÓ GIÁ TRỊ BẰNG CHỨNG PHÁP LÍ VỀ BẢN QUYỀN)</strong>:

 

Search

Search:

Web

Desktop

News

Images

Local (BETA)

Encarta

Search the web:

Web

News

Images

Local

Look up word

Encarta

Stock Quotes

Find Movies

Shopping

Music


 

Commands

+Search Builder

Settings

Help

Español

Were you looking for site:c.1asphost.com "tran xuan an"

Web Results

Page 1 of 38 results containing site:c.1asphost.com "Trần Xuân An" (0.02 seconds)

SPONSORED SITES

a site. Shop eBay. - www.ebay.com

Try browsing a huge selection now. Find exactly what you want today!

Results


 

<strong>Chao mung_Welcome to_ WEBSITE TRAN XUAN AN</strong>

ĐĂ GHÉ THĂM " WEBSITE TRẦN XUÂN AN " http://c.1asphost.com/TrXuanAn/web_index.htm http://c.1asphost.com/TrXuanAn/ 2_links_index.htm Để mở website này, người đọc có thể bấm ...

c.1asphost.com/TrXuanAn/2_links_index.htm

 

Cached page

 

<strong>Tran Xuan An - Ngau hung doc tho</strong>

trần xuân an ngẫu hứng đọc thơ những bài gửi đăng báo, tạp chí N H À X U Ấ T B Ả N V Ă N N G H Ệ T P. H C M.

c.1asphost.com/TrXuanAn/an/ngau_hdtho.htm

 

Cached page

 

<strong>WEBSITE TRAN XUAN AN</strong>

WEBSITE TRẦN XUÂN AN Poet / writer & researcher Twenty one published-books (poem; novel; essay; research; critical contribution on history, literature.

c.1asphost.com/TrXuanAn/web_index.htm

 

Cached page

 

<strong>Trần Xuân An - Tác giả & Tác phẩm</strong>

71B Phạm Văn Hai (cửa hiệu Phan Huyên) Phường 3 - Quận Tân B́nh - TP HCM ĐT: 08. 8453955 ĐTDĐ: 0908.803908 Email: tranxuanan_vn@yahoo.com

c.1asphost.com/TrXuanAn/txa/Lienhe.htm

 

Cached page

 

<strong>Trang chu_Main page</strong>

copyright TRẦN XUÂN AN Poet / writer & researcher Twenty one published-books (poem; novel; essay; research; critical contribution on history, literature.

c.1asphost.com/TrXuanAn/an/an_index.htm

 

Cached page

4/27/2006

 

<strong>Trần Xuân An - Tác giả & Tác phẩm</strong>

DANH MỤC TÁC PHẨM, SOẠN PHẨM, BIÊN KHẢO, TIỂU LUẬN CỦA TÁC GIẢ ( Tính đến năm 2005 ) Tác phẩm đă xuất bản và đă đăng kí bản quyền tại

c.1asphost.com/TrXuanAn/txa/Tacpham.htm

 

Cached page

 

<strong>Trần Xuân An - Tác giả & Tác phẩm</strong>

Trần Xuân An (có bŕi kí bút danh: Trần Ngôn Sử) Sinh ngŕy 10. 11. 1956 tại Huế; Nhân tộc: Kinh (Việt Nam); Quę gốc: Quảng Trị;

c.1asphost.com/TrXuanAn/txa/Tacgia.htm

 

Cached page

 

<strong>Tran Xuan An - Hat chieu hon minh</strong>

TRẦN XUÂN AN HÁT CHIÊU HỒN M̀NH thơ NHÀ XUẤT BẢN ĐỒNG NAI 1991 Thành kính tạ ơn vợ chồng anh Trần Xuân Thái, vợ chồng chị Trần Thanh Loan cùng ...

c.1asphost.com/TrXuanAn/an/hat_chminh.htm

 

Cached page

 

<strong>Trần Xuân An - Tác giả & Tác phẩm</strong>

Trần Xuân An Thứ sáu (thứ bảy cũ), 25-02 HB6 ( 2006 ) [ 28-01 Bính tuất HB6 ] & 01-3 HB6 tại TP. HCM., Việt Nam TÁC GIẢ GIỮ BẢN QUYỀN ( AUTHOR’S COPYRIGHT

c.1asphost.com/TrXuanAn/txa/Index.htm

 

Cached page

 

<strong>Tran Xuan An - Que nha yeu dau</strong>

TRẦN XUÂN AN QU Ê NH À YÊU DẤU trường ca thơ NHÀ XUẤT BẢN VĂN NGHỆ TP. HỒ CHÍ MINH 1998 ...

c.1asphost.com/TrXuanAn/an/que_nydau.htm

 

Cached page

 

<strong>Tran Xuan An - Giot muc canh dong & vo kich dien</strong>

author's copyright trần xuân an giọt mực, cánh đồng & vở kịch điên tập thơ ...

c.1asphost.com/TrXuanAn/an/giot_mcdvvkdien.htm

 

Cached page

 

<strong>Tran Xuan An - Ngoi truong thang gieng</strong>

trần xuân an n g ô i t r ư ờ n g t h á n g g i ê n g t iểu thuyết n hà xuất bản T HANH NIÊN 2003 ...

c.1asphost.com/TrXuanAn/an/ngoi_ttgieng.htm

 

Cached page

 

<strong>Lien lac voi tac gia_Contact</strong>

author's copyright TRẦN XUÂN AN trang liên lạc ... Trang chủ Tác phẩm Tác giả H́nh ảnh Liên lạc Góp ư ...

c.1asphost.com/TrXuanAn/an/an_lienlac.htm

 

Cached page

 

<strong>Ve tac gia_About me</strong>

TRẦN XUÂN AN Sinh ngày 10 tháng 11 năm 1956 tại Thành Nội, Huế Quê gốc: Quảng Trị Tốt nghiệp khoa ngữ văn Đại học Sư ...

c.1asphost.com/TrXuanAn/an/an_tacgia.htm

 

Cached page

 

<strong>Tran Xuan An - Ke bi nem vao bao</strong>

đề tựa Tập thơ thứ năm của Trần Xuân An sáng tác trong bốn năm gần đây (1991 – 1994) (*) – với 151 bŕi thơ ...

c.1asphost.com/TrXuanAn/an/ke_bnvbao.htm

 

Cached page

 

<strong>Gop y_Feedback</strong>

author's copyright TRẦN XUÂN AN ... Trách cứ Vấn đề Đề nghị Khen ngợi

c.1asphost.com/TrXuanAn/an/an_gopy.htm

 

Cached page

 

<strong>SO DO WEBSITE TRAN XUAN AN</strong>

SƠ ĐỒ WEBSITE TRẦN XUÂN AN Trang mở cửa Website Trầ n Xuân An ( 2 links ) Hai hệ thống trang chính: 1. Bản chỉ có chữ

c.1asphost.com/TrXuanAn/sodo_website_tranxuanan.htm

 

Cached page

 

<strong>Tran Xuan An - Toi van o tren duong</strong>

Ở Trần Xuân An, đó lŕ kết tinh hoang tưởng. Vŕ giải mă hoang tưởng phi lí đem đến sự giải thoát (*). Tôi quen biết Trần Xuân An đă tręn hai ...

c.1asphost.com/TrXuanAn/an/toi_votduong.htm

 

Cached page

 

<strong>Trang cua nhung nguoi cung thoi trong va ngoai nuoc</strong>

... của việc sưu tuyển hoặc giới thiệu nŕy chỉ có tính chất giao lưu, đoŕn kết Mong đợi sự góp ư. Trân trọng & cảm ơn. Trần Xuân An

c.1asphost.com/TrXuanAn/an/trangcnncthoi.htm

 

Cached page

 

<strong>Tran Xuan An - Que nha yeu dau_Phan 1</strong>

TRẦN XUÂN AN QU Ê NH À YÊU DẤU trường ca thơ NHÀ XUẤT BẢN VĂN NGHỆ TP. HỒ CHÍ MINH 1998 ...

c.1asphost.com/TrXuanAn/an/que_nydau/que_nydau_p1.htm

 

Cached page

 

<strong>Tran Xuan An - Tieu su bien nien PCDT Nguyen Van Tuong (1824 - 1886 ... </strong>

TRẦN XUÂN AN bięn soạn tháng 3 HB1 ( 2001 ) (tháng 2 âl., Tân tị HB1) Lúc khoảng 14 giờ, můng hai Tết Nguyęn đán Bính tuất HB6 ( 30-01-2006

c.1asphost.com/TrXuanAn/an/tieu_sbnpcdtnvtuong

.htm

 

Cached page

 

<strong>Tran Xuan An - Phu chinh dai than Nguyen Van Tuong_Tep 1</strong>

Ư KIẾN GIÁM ĐỊNH BẢN THẢO SÁCH: “PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN NGUYỄN VĂN TƯỜNG” của tác giả Trần Xuân An

c.1asphost.com/TrXuanAn/an/phu_cdtnvtuong.htm

 

Cached page

 

<strong>Tran Xuan An - Ke bi nem vao bao_Phan 1</strong>

author's copyright TRẦN XUÂN AN ... đồng không, bông súng lung lay chim nhỏ hé giọng đỏ hồ búp bấc đèn nở

c.1asphost.com/TrXuanAn/an/ke_bnvbao/ke_bnvbao_p1.htm

 

Cached page

 

<strong>Tran Xuan An - Tieu su bien nien PCDT Nguyen Van Tuong (1824 - 1886 ... </strong>

TRẦN XUÂN AN (biên soạn) TIỂU SỬ BIÊN NIÊN K̀ VĨ PHỤ CHÍNH ĐẠI THẦN NGUYỄN VĂN TƯỜNG (1824 – 1886) (Tệp 2) C. CHƯƠNG BA IV.

c.1asphost.com/TrXuanAn/an/tieu_sbnpcdtnvtuong/

tieu_sbnpcdtnvtuong_tep2.htm

 

Cached page

 

<strong>Tran Xuan An - Ngoi truong thang gieng_Phu luc</strong>

trần xuân an n g ô i t r ư ờ n g t h á n g g i ę n g t iểu thuyết n hŕ xuất bản T HANH NIĘN 2003 ...

c.1asphost.com/TrXuanAn/an/ngoi_ttgieng/ngoi_ttgieng_pluc.htm

 

Cached page

 

<strong>Tran Xuan An - Suy nghi ve mot so van de trong lich su co dai nuoc ta ... </strong>

TRẦN XUÂN AN Cước chú của bài Giai đoạn huyền sử trong Đại Việt sử kí toàn thư… : (1) Đại Việt sử kí toàn thư , (gọi tắt là Toàn thư ), bản in ...

c.1asphost.com/TrXuanAn/an/suy_nvmsvdtlscdnta

/suy_nvmsvdtlscdnta_b1.htm

 

Cached page

 

<strong>Tran Xuan An - Suy nghi ve mot so van de trong lich su co dai nuoc ta</strong>

TRẦN XUÂN AN Cước chú của bài Lời thưa đầu sách : (*) Đại Việt sử kí toàn thư (gọi tắt là Toàn thư ), bản in nội các quan bản (1697); Khâm ...

c.1asphost.com/TrXuanAn/an/suy_nvmsvdtlscdnta.htm

 

Cached page

 

<strong>Tran Xuan An - Giot muc canh dong & vo kich dien_Phan 1</strong>

author's copyright trần xuân an giọt mực, cánh đồng & vở kịch đięn tập thơ ...

c.1asphost.com/TrXuanAn/an/giot_mcdvvkdien/giot_mcdvvkdien

_p1.htm

 

Cached page

 

<strong>Tran Xuan An - Hat chieu hon minh_Phan 1</strong>

TRẦN XUÂN AN HÁT CHIÊU HỒN M̀NH thơ ( phần 1 ) NHÀ XUẤT BẢN ĐỒNG NAI 1991 Xem http://tranxuananthitap2.blogspot.com/ hồn xiêu phách lạc giữa đời

c.1asphost.com/TrXuanAn/an/hat_chminh/hat_chminh_p1.htm

 

Cached page

 

<strong>Tran Xuan An - Suy nghi ve mot so van de trong lich su co dai nuoc ta ... </strong>

Trần Xuân An Sinh ngày 10. 11. 1956 tại Huế; Nhân tộc: Kinh (Việt Nam); Quê gốc: Quảng Trị; Tốt nghiệp khoa ngữ văn Việt ĐHSP.

c.1asphost.com/TrXuanAn/an/suy_nvmsvdtlscdnta

/suy_nvmsvdtlscdnta_pcuoi.htm

 

Cached page

 

<strong>Bai moi - sach moi</strong>

Thứ năm (thứ sáu cũ), ngŕy 07-04 HB6 ( 2006 ), người bięn soạn (Trần Xuân An) đă đưa lęn website nŕy thęm một cuốn sách (trọn vẹn gồm 12 tệp vŕ ...

c.1asphost.com/TrXuanAn/an/an_moi.htm

 

Cached page

 

<strong>Tran Xuan An - Ngoi truong thang gieng_Phan 8</strong>

trần xuân an n g ô i t r ư ờ n g t h á n g g i ę n g t iểu thuyết n hŕ xuất bản T HANH NIĘN 2003 ...

c.1asphost.com/TrXuanAn/an/ngoi_ttgieng/ngoi_ttgieng_p8.htm

 

Cached page

 

<strong>Dien dan_Forum</strong>

Nguyễn (Sài G̣n), Trần Nguyễn Dụng cũng chính là Trần Xuân An!?! Phải chăng Trần Xuân An tạm thời lấy hai bút danh đó để trả lời những ư kiến ...

c.1asphost.com/TrXuanAn/an/an_diendan.htm

 

Cached page

 

<strong>THO cua nhung nguoi cung thoi trong va ngoai nuoc</strong>

Trần Xuân An thơ Bŕi 1 HŔN VŨ HŮNG Sinh ngŕy 16 tháng 11 năm 1962 tại thị xă Đông Hŕ, Quảng Trị (quę gốc: Phú Thuận, Hương Phú, Thừa Thięn)

c.1asphost.com/TrXuanAn/an/trangcnncthoi/trangcnncthoi_tho.htm

 

Cached page

 

<strong>VAN cua nhung nguoi cung thoi trong va ngoai nuoc</strong>

Trần Xuân An văn Bŕi 1 PHŮNG GIA LỘC Cái đęm hôm ấy... đęm gě? Cuối năm 1983, tôi được ở nhŕ chờ quyết định về nghỉ chế độ.

c.1asphost.com/TrXuanAn/an/trangcnncthoi/trangcnncthoi_van.htm

 

Cached page

 

<strong>LUAN cua nhung nguoi cung thoi trong va ngoai nuoc</strong>

Trần Xuân An luận Bŕi 1: BŔI VIẾT CỦA NGƯỜI CŮNG THỜI Dưới đây lŕ bŕi viết thể hiện ư tưởng: Dân chủ lŕ yęu cầu bức xúc

c.1asphost.com/TrXuanAn/an/trangcnncthoi/trangcnncthoi_tluan.htm

 

Cached page

 

<strong>Hinh anh_Photo gallery</strong>

TRẦN XUÂN AN trang h́nh ảnh

c.1asphost.com/TrXuanAn/an/an_hinhanh.htm

 

Cached page


 

SPONSORED SITES

.Com Site

Variety Of Featured-Packed Plans. Free .info Domain. Limited Time!

1and1.com

See your message here...


 

Were you looking for site:c.1asphost.com "tran xuan an"

Didn't get the results you expected? Help us improve.

Why does Search look like this?

You are seeing this message because our stylesheet is not compatible with your browser.

Search the web:

Search Home

MSN Search Toolbar

About MSN Search

Add MSN Search to Your Site

MSN Home

My MSN

Hotmail

Messenger

News Headlines

Feedback

Advertise with Us

© 2006 Microsoft. MSN Privacy

RSS


 

GOOGLE SEARCH, YAHOO SEARCH CŨNG ĐĂ LƯU TRỮ GIÚP MỘT SỐ TRANG THUỘC " WEBSITE TRẦN XUÂN AN " KỂ TRÊN.

<strong>XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN MSN SEARCH, GOOGLE SEARCH & YAHOO SEARCH.</strong>

MỘT LẦN NỮA, KÍNH MONG <strong>ASPHOST (http://c.1asphost.com)</strong> QUAN TÂM KHẮC PHỤC GIÚP SỰ CỐ INTERNET DO TIN TẶC GÂY RA NHƯ ĐĂ TR̀NH BÀY.


 

Trần Xuân An

<em>10 g 50, ngày 29-04 HB6 ( 2006 )

tại TP. HCM., Việt Nam</em>


 

____________________________________

____________________________________


 

<strong><em>" WEBSITE TRẦN XUAN AN "</em>

ĐĂ ĐƯỢC HIỂN THỊ LẠI</strong>


 

Sáng hôm nay, 04-05 HB6 ( 2006 ), tôi rất vui mừng khi thấy "Website Trần Xuân An"

tại địa chỉ cũ đă được hiển thị lại:


 

<strong><a href="http://c.1asphost.com/TrXuanAn/web_index.htm">http://c.1asphost.com/TrXuanAn/

web_index.htm</a></strong>


 

Xin chân thành cảm ơn <strong>ASPHOST ( http://c.1asphost.com )</strong> đă nhanh chóng khắc phục sự cố internet, và tiếp tục cho máy chủ (server) vận hành, với sự hào phóng miễn phí vốn có của ASPHOST.


 

Trân trọng,


 

Trần Xuân An


 

LƯU Ư: CÓ MỘT SỐ LINKs V̀ DÀI QUÁ, TÔI PHẢI NGẮT ĐỂ KHỎI BỊ TH̉I RA PHẦN LỀ. VUI L̉NG ĐỪNG ĐỂ KHOẢNG TRỐNG NÀO KHI SAO LẠI (COPY) LINK & DÁN VÀO THANH ĐỊA CHỈ (ADDRESS bar), NẾU MUỐN TRUY CẬP (BẤM "GO") LINK ẤY.


 

12


 


 

P H Ụ L Ụ C III

( n g o à i s á c h )

 

& CUỐI SÁCH

 

 

Tiểu thuyết

<strong>MÙA HÈ BÊN SÔNG</strong>

 

Bản in vi tính lần thứ ba

(có sửa chữa, bổ sung):

25.10 - 19.12.2003 [HB.3]

 

 

<strong>Bổ sung tư liệu tham khảo (ngày 20-04 HB6 [ 2006 ]):

Phụ lục 3 về nhân vật lịch sử LÊ DUẨN</strong>


 

<em>Mặc dù BBCVietnamese.com đôi khi có những bài viết về lịch sử, xă hội không thật chính xác, đề cao nhiều nhân vật, nhất là nhân vật (văn hóa, kinh tế, tôn giáo...) hiện thời không thật khách quan, nhưng cũng phải thừa nhận BBCVietNamese.com có tinh thần rộng mở, chấp nhận nhiều chủ kiến khác nhau về mọi lĩnh vực, kể cả chủ kiến chính trị.


 

Bài viết (4 ḱ) dưới đây chỉ đề cập đến nhân vật lịch sử Lê Duẩn (1907 - 1986), một nhân vật lịch sử lớn, ở vị trí tối cao, có vai tṛ quyết định... Tuy vậy, hầu như thông qua nhân vật lịch sử này, bài viết c̣n phác họa được những nét cơ bản của một giai đoạn lịch sử, chủ yếu ở chính trường Hà Nội (1954 - 1975)... Do đó, tôi nhận thấy nên mạn phép BBCVietnamese.com để đưa bài viết vào cuối tiểu thuyết "Mùa hè bên sông" (Nỗi đau hậu chiến) này nhằm làm tư liệu tham khảo, ít ra cũng giúp cho người đọc có một ư niệm toàn diện hơn, cho dù bài viết có thể c̣n ít nhiều sai lệch, thiếu sót.


 

Dẫu sao, bài viết cũng gợi mở và cung cấp những điều mà người viết tiểu thuyết là tôi, cách đây khoảng 10 năm (ở thời điểm Việt Nam đă trải qua 10 năm Đổi mới!), không phải không dè dặt, và đă tránh né (*). TXA.</em>


 


 


 

 

<strong>Bài của BBCVietnamese</strong>

 

02 Tháng 5 2006 - Cập nhật 12h14 GMT

<strong>Nhìn lại vai trò của ông Lê Duẩn

(kỳ 1)</strong>


 

Lê Duẩn (1907-1986), Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam từ 1960 cho đến khi qua đời năm 1986, có một ảnh hưởng chính trị rất lớn tại Bắc Việt và ở Việt Nam sau 1975, khi hai miền thống nhất.


 

Vì nhiều lý do, như nhiều tài liệu của phía Việt Nam chưa được giải mật, cho đến hôm nay giới nghiên cứu vẫn chưa biết được hết mức độ ảnh hưởng của ông Lê Duẩn trong các chính sách của Việt Nam mấy chục năm qua.


 

Nhưng gần đây nhiều tài liệu, ở cả dạng ấn hành chính thức hoặc chuyền tay, đã cung cấp thêm thông tin có ích về vai trò và di sản của Lê Duẩn tại Việt Nam.


 

Theo giáo sư Stein Tonnesson, University of Oslo ("Le Duan and the Break with China", 2001), Lê Duẩn là một trong những người miền Nam cảm thấy bị lừa vì việc chấp nhận một giải pháp thỏa hiệp.


 

<strong><em>Làm cách mạng</em></strong>


 

Sinh ra ở Quảng Trị, Lê Duẩn tham gia “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội“ năm 1928 và là thành viên sáng lập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1930.


 

Năm 1931, ông chính thức bắt đầu sự nghiệp cách mạng khi được bổ nhiệm làm Ủy viên ban tuyên huấn xứ ủy Bắc Kỳ.


 

Cuối năm đó, ông bị bắt và bị kết án 20 năm tù, nhưng năm 1936, được trả tự do sau khi phong trào Mặt trận Bình dân lên nắm quyền ở Pháp và ra ân xá cho tù nhân chính trị tại Đông Dương.


 

Lê Duẩn bị bắt lần thứ hai năm 1940, kết án 10 năm tù và đày đi Côn Đảo.


 

Các nhà tù thực dân thập niên 1930-40 đã trở thành các “đại học cách mạng” nơi có việc tuyên truyền chủ nghĩa Marx – Lenin và tuyển mộ người cho Đảng Cộng sản Đông Dương.


 

Những năm ngồi tù này đã tác động mạnh đến Lê Duẩn và đưa ông trở thành nhà cách mạng cứng rắn và không ngại thử thách.


 

Sau khi ra tù năm 1945, ông trở thành thành viên trong chính phủ lâm thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh.


 

Khi chiến tranh tái tục tháng 12-1946, Lê Duẩn được cử giữ chức Bí thư Xứ ủy Nam Bộ (sau này là Trung ương Cục miền Nam) cho đến năm 1954, năm xảy ra các sự kiện Điện Biên Phủ và Hiệp định Geneva về Việt Nam và Đông Dương được ký kết.


 

<strong><em>Hòa hay chiến?</em></strong>


 

Nhiều nhà nghiên cứu đã nhận định vào thời điểm Hiệp định Geneva được ký, nhiều cán bộ kháng chiến miền Nam đã rất thất vọng.


 

Sau khi tình thế trở nên rõ ràng là cuộc bầu cử toàn quốc mà Hiệp định Geneva hứa hẹn sẽ không xảy ra, Lê Duẩn thúc giục Hà Nội chuyển sang chính sách đấu tranh vũ trang ở miền Nam.


 


 


 

<em>Ảnh/ Hiệp định Geneva 1954 khiến nhiều người không hài lòng</em>


 


 

Nhưng ban lãnh đạo Đảng Cộng sản (từ 1951 đã đổi tên là Đảng Lao Động) không muốn thông qua phương án này.


 

Theo giáo sư Pierre Asselin, của Đại học Chaminade, Honolulu, người viết một tiểu luận gần đây nói riêng về vai trò của Lê Duẩn, đã tìm cách giải thích cho sự miễn cưỡng của ban lãnh đạo Bắc Việt lúc đó.


 

Thứ nhất, sau hội nghị Geneva và việc chia đôi Việt Nam, Bắc Việt thực hiện chiến dịch cải cách ruộng đất và tập thể hóa. Nhưng chiến dịch này hóa ra có nhiều vấn đề hơn dự tính. Thứ hai, lực lượng vũ trang Bắc Việt chưa kịp hồi phục sau tám năm đánh Pháp.


 

Thứ ba, Hà Nội không muốn khiêu khích sự can thiệp của Mỹ. Vào lúc này, nhiều người trong Đảng Cộng sản chấp nhận quan điểm của Bắc Kinh và Moscow rằng Mỹ sẽ không can thiệp quân sự vào miền Nam nếu không bị khiêu khích và sự sống còn của chính phủ Sài Gòn không bị đe dọa.


 

Cuối cùng, Đại hội lần thứ 20 của Đảng CS Liên Xô năm 1956 tán thành chính sách “chung sống hòa bình” của Nikita Khrushchev. Theo chính sách đó, các nước cộng sản không nên tìm kiếm đối đầu quân sự với phương Tây mà cần theo đuổi cạnh tranh kinh tế với khối tư bản.


 

Theo giáo sư Pierre Asselin ở Việt Nam, Moscow không chỉ hy vọng Bắc Việt không mở lại giao tranh, mà – cùng với Bắc Kinh – còn thúc giục Hà Nội mở lại hội nghị Geneva để giải quyết khác biệt với chính quyền miền Nam và tránh chiến tranh.


 

Không muốn rạn nứt với các đồng minh bằng việc công khai bác bỏ chiến lược mới của Moscow và ủng hộ đấu tranh vũ trang. Hà Nội, ít nhất vào lúc này, không chịu thúc đẩy chính sách vũ trang vượt qua giới tuyến 17.


 

Sau Phiên họp lần thứ 10 của Ban Chấp hành Trung ương tháng Tám – Chín 1956, Tổng Bí thư Trường Chinh bị buộc từ chức sau những sai lầm của chiến dịch cải cách ruộng đất.


 

Ông Hồ Chí Minh tạm thời giữ chức lãnh đạo đảng, nhưng chỉ cho đến khi tìm ra một ứng viên thích hợp cho vị trí này.


 

Cuối năm ấy, vài tuần trước Phiên họp lần 11 của Ban Chấp hành, ông Lê Duẩn gửi ra Hà Nội Đề cương cách mạng miền Nam, một trong những tài liệu quan trọng nhất của Cách mạng Việt Nam sau 1954.


 

Tài liệu này sau đó được trình bày và bổ sung tại một cuộc họp của cán bộ miền Nam ở Phnom Penh đầu tháng 12-1956, trước khi ông Lê Duẩn chính thức đệ trình cho ban lãnh đạo đảng ở Hà Nội.


 

Sau khi thảo luận, Ban Chấp hành Trung ương đồng ý một sự gia tăng hạn chế hoạt động quân sự ở miền Nam, một quyết định sau đó được Bộ Chính trị thông qua.

 

<strong>BBCVietnamese</strong>

 

_____________________________________

 

 

 

 

<strong>Bài của BBCVietnamese</strong>

 

04 Tháng 5 2006 - Cập nhật 13h24 GMT

<strong>Bắt đầu cuộc thâu tóm quyền lực

(kỳ 2)</strong>

 

<em>Tháng 2-1951, diễn ra Đại hội lần thứ Hai của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự kiện này đánh dấu việc Đảng Cộng sản ra công khai sau khi đã tuyên bố “tự giải tán” vào tháng 11-1945. </em>


 


 


 

<em>Ảnh / Trong các lãnh đạo cộng sản, ông Lê Duẩn được xem là người có kinh nghiệm hoạt động lâu nhất ở ba miền và ở tù lâu nhất</em>


 

Cũng tại Đại hội Hai tổ chức ở Tuyên Quang, Đảng Cộng sản thông qua quyết định đổi tên thành Đảng Lao Động.


 

Năm 1957, Đảng Lao động Việt Nam điều ông Lê Duẩn ra Hà Nội và chọn ông làm quyền Tổng Bí thư và vào Thường vụ Bộ Chính trị.


 

Quyết định đề bạt khá bất ngờ này phản ánh lo ngại ngày càng gia tăng của Đảng về tình hình ở miền Nam.


 

Sau này, viết trong tạp chí Nghiên cứu Lịch sử (tháng Bảy 1969), nhà cách mạng miền Nam Trần Văn Giàu xác nhận giai đoạn 1957-59 là “những ngày đen tối nhất” cho phong trào cách mạng ở miền Nam.


 

<strong><em>Nghị quyết 15</em></strong>


 

Tuy vậy, mặc dù cho phép gia tăng vũ lực một cách hạn chế ở miền Nam, chính sách của Đảng Cộng sản lúc này không xem việc đẩy mạnh bạo lực cách mạng là ưu tiên. Tại phiên họp toàn thể lần thứ 14 vào tháng 11-1958, Ban Chấp hành TƯ không xem xét tình hình ở miền Nam, mà đề ra kế hoạch ba năm cho phát triển kinh tế và văn hóa ở miền Bắc. Kế hoạch sau đó được Quốc hội và Bộ Chính trị thông qua.


 

Ông Lê Duẩn không tham dự các buổi họp bàn này. Một tháng trước đó, Bộ Chính trị cử ông vào miền Nam để đánh giá tình hình. Khi quay về Hà Nội tháng Giêng 1959, cùng đi với Lê Duẩn là nhiều bí thư đảng bộ ở miền Nam, trong đó có Hai Xô, Trần Lương và Võ Chí Công.

 

<em>Ghi chú dưới một bức ảnh: Đường mòn Hồ Chí Minh là con đường vận chuyển vũ khí và người từ Bắc vào Nam</em>


 

Tại phiên họp lần thứ 15 của Ban Chấp hành TƯ, những người này đã mô tả về “phong trào đấu tranh của đồng bào miền Nam chống Mỹ - Diệm” và thúc giục Ban Chấp hành TƯ ủng hộ cuộc đấu tranh vũ trang.


 

Theo nhận định trong một bài viết gần đây về Lê Duẩn của giáo sư Pierre Asselin, Đại học Chaminade, Honolulu, báo cáo của ông Lê Duẩn và các đồng chí miền Nam “nắm bắt cảm giác thất vọng của những người chiến đấu và ủng hộ cuộc cách mạng ở miền Nam.”


 

Họ cũng thể hiện sự gấp rút trong lòng những người kháng chiến miền Nam muốn có phản ứng trước sự ủng hộ ngày càng tăng của Mỹ dành cho chính quyền Sài Gòn.”


 

Hội nghị Trung ương lần thứ 15 kết thúc và ra nghị quyết, trong đó một mặt vẫn nhấn mạnh cách mạng ở miền Nam “có khả năng hoà b́nh phát triển”, nhưng mặt khác, chuẩn bị theo phương hướng “khởi nghĩa đánh đổ chế độ Mỹ - Diệm.”


 

Nghị quyết 15 sau này được xem là nền tảng chỉ đạo cho công cuộc vũ trang ở miền Nam vào cuối thập kỷ 1950.


 

Quyết định tái tục đấu tranh vũ trang ở miền Nam được quyết định tại Hội nghị Trung ương 15 tổ chức tháng Giêng 1959, nhưng chỉ được chính thức công bố một tuần sau việc chính phủ tổng thống Ngô Đình Diệm ban hành Luật 10/59 vào tháng Năm.


 

Hà Nội cũng đồng ý chính thức đóng góp cho mặt trận ở miền Nam bằng việc gửi quân và tiếp viện. Ngày 19-5, đoàn tiếp vận mang bí số 559 được thành lập để “mở đường tiếp vận cho mặt trận phía nam.” Tháng Tám năm ấy, đơn vị quân miền Bắc đầu tiên lên đường vào Nam qua tuyến vận tải dọc dãy Trường Sơn (‘đường mòn Hồ Chí Minh’).


 

Có thể nói nghị quyết 15 là một thắng lợi cho những lãnh đạo cách mạng miền Nam, trong đó có Lê Duẩn. Khi Bộ Chính trị thông qua nghị quyết này, vẫn còn có nhiều người trong Ban Chấp hành TƯ phản đối. William Duiker (trong quyển ‘Hồ Chí Minh’, 2000) nhận xét đa số lãnh đạo trong Đảng “đồng ý rằng đấu tranh vũ trang có thể là cần thiết nếu mọi lựa chọn khác đã thất bại.” Tuy nhiên, vào lúc thông qua nghị quyết 15, nhiều người ở miền Bắc không tin rằng các “lựa chọn” khác đã được cân nhắc kỹ, và cảm thấy chưa chín muồi để chuyển sang chính sách đấu tranh vũ trang.


 

Pierre Asselin cho rằng “nếu không có sức ép lớn của miền Nam lên ban lãnh đạo miền Bắc, thì Nghị quyết 15 – quyết định tái bắt đầu chiến sự sau sáu năm gián đoạn – đã không được thông qua.”


 

<strong><em>Tổng Bí thư chính thức</em></strong>


 

Đảng Lao động Việt Nam tổ chức Đại hội lần thứ Ba vào tháng Chín 1960. Nghị quyết đại hội kết luận cách mạng Việt Nam sẽ đồng thời thực hiện hai mục tiêu: “tiến hành cách mạng xă hội chủ nghĩa ở miền Bắc” và “giải phóng miền Nam.”


 

 


 


 

<em>Ảnh / Tại Đại hội Ba năm 1960, ông Lê Duẩn chính thức được bầu làm Bí thư thứ nhất của Đảng Cộng sản</em>

 

576 đại biểu dự đại hội đã chọn Lê Duẩn làm tổng bí thư và là người đứng đầu Bộ Chính trị.

Vì sao lại là ông Lê Duẩn, mà không phải đại tướng Võ Nguyên Giáp, người được quốc tế biết đến nhiều nhất chỉ sau ông Hồ Chí Minh?


 

Theo giải thích của ông Bùi Tín trong quyển Hoa xuyên tuyết, ưu thế của ông Lê Duẩn là v́ “một tiêu chuẩn tất nhiên hồi ấy, ở tù lâu năm, một bằng cấp cần thiết để được giao quyền cao chức trọng, v́ từ đó được coi là được thử thách nhiều hơn, đáng tin cậy hơn.”


 

Hoàng Tùng, trong bài viết năm 2002 trên Tạp chí Cộng sản, cũng nói Lê Duẩn là người "hoạt động cách mạng ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam lâu dài nhất, thời gian ở tù lâu nhất" và có "quan hệ rộng với các đồng chí thuộc cả hai thế hệ trong những năm hoạt động bí mật."


 

Tuy nhiên, “nhược điểm” ở tù ít của ông Giáp không phải là yếu tố duy nhất dẫn đến việc ông Duẩn được chọn.


 

Tính chất của các mục tiêu đề ra ở Đại hội khiến Lê Duẩn trở thành một ứng cử viên thích hợp hơn. Thứ nhất, niềm tin của ông Lê Duẩn vào phương thức phát triển Sô viết và các nguyên tắc kiểu Stalin hứa hẹn phù hợp mục tiêu “thực hiện công nghiệp hóa XHCN bằng cách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng” (Nghị quyết Đại hội Ba.) Thứ hai, và quan trọng hơn cả, thời gian hoạt động của Lê Duẩn ở miền Trung và Nam Việt Nam thể hiện kiến thức và uy tín có thể giúp mục tiêu “giải phóng miền Nam” và điều hòa sự hợp tác giữa cán bộ hai miền.


 

Ralph Smith (trong quyển “An International History of the Vietnam War”, 1983) cũng ghi nhận thêm một chi tiết: thành công của ông Lê Duẩn ở Đại hội Ba chỉ là một phần trong sự tái tổ chức cơ cấu lãnh đạo mà sẽ kéo dài ở Bắc Việt trong cả một thập niên sau đó.


 

<em>BBC trich riêng để nhấn mạnh: [Lúc này] quanh Lê Duẩn vẫn là những nhà cách mạng kỳ cựu nhiều ảnh hưởng, những người cổ vũ cho đường lối thận trọng trong việc giải quyết vấn đề miền Nam. Pierre Asselin</em>

 

Ralph Smith chỉ ra rằng các thay đổi trong bộ máy nhà nước đã được loan báo ngày 15-7-1960 vào cuối phiên họp đầu tiên của Quốc hội mới bầu ra. Ông Phạm Văn Đồng tiếp tục là thủ tướng, với năm phó thủ tướng (trong đó có Võ Nguyên Giáp và Phạm Hùng); nhưng ông Trường Chinh không còn là phó thủ tướng mà chuyển sang làm chủ tịch Quốc hội. Những người thân cận của ông cũng bị đưa ra khỏi chính phủ, trong đó Hoàng Quốc Việt và Lê Văn Lương không còn có mặt trong Bộ Chính trị.


 

Tại Đại hội Ba, một Bộ Chính trị mới 11 người được hình thành gồm các ông: Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng, Võ Nguyên Giáp, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Duy Trinh, Lê Thanh Nghị và Hoàng Văn Hoan. Trần Quốc Hoàn và Văn Tiến Dũng được bầu là thành viên dự khuyết.


 

Pierre Asselin ghi nhận ban đầu sự kiểm soát của ông Lê Duẩn đối với công việc của Đảng Lao động và chính phủ còn hạn chế.


 

Xung quanh ông vẫn là những nhà cách mạng kỳ cựu nhiều ảnh hưởng, phong độ và được quần chúng yêu mến hơn, như Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp, những người cổ vũ cho đường lối thận trọng trong việc giải quyết vấn đề miền Nam dẫu rằng Bộ Chính trị đã thông qua Nghị quyết 15.”


 

Kết quả là khi mới được bầu làm Tổng Bí thư, ông Lê Duẩn thường tự giảm bớt chính kiến của mình để dàn xếp quan điểm của các lãnh đạo khác kỳ cựu hơn.


 

Đây cũng là một trong những lý do giải thích vì sao mặc dù Nghị quyết 15 đã được thông qua từ năm 1959, nhưng ngay cả sau Đại hội Ba năm 1960, vị tân Tổng Bí thư cũng chần chừ chứ chưa thúc ép ban lãnh đạo thực hiện ngay nghị quyết này. Ông Hồ Chí Minh và nhiều lãnh đạo khác cảm thấy còn nhiều vấn đề cản trở việc vạch ra một chiến lược cụ thể, chẳng hạn tác động có thể có đối với Moscow, Bắc Kinh và Washington.


 

Tuy nhiên, thế cân bằng quyền lực trong Đảng Lao động nhanh chóng thay đổi. Chỉ sau vài năm kể từ lúc trở thành Tổng Bí thư, ông Lê Duẩn đã xác lập uy quyền tối thượng tại Bắc Việt.

 

<strong>BBCVietnamese</strong>

 

_____________________________________

 

 

 

<strong>Bài của BBCVietnamese</strong>

 

 

10 Tháng 5 2006 - Cập nhật 14h01 GMT

<strong>Cuộc đấu tranh trong nội bộ

(kỳ 3) </strong>

 

Như phần hai của loạt bài này đã nói, khi mới được bầu làm Tổng Bí thư, ông Lê Duẩn thường tự giảm bớt chính kiến của mình để dàn xếp quan điểm của các lãnh đạo khác kỳ cựu hơn.


 

Một câu chuyện minh họa cho ảnh hưởng có mức độ của ông Lê Duẩn thời kì đầu được Thượng tướng Trần Văn Trà kể lại trong quyển Những chặng đường lịch sử của B2 thành đồng (1992).


 

<em>Ghi chú dưới một bức ảnh: Trong thập niên 1960, nhóm của ông Lê Duẩn phê phán 'chủ nghĩa xét lại hiện đại'</em>

 

Một ngày của năm 1959, ông Trần Văn Trà nghe bản tin của BBC về cuộc chạm súng giữa một trung đội quân Việt Nam Cộng Hòa và nhóm quân của những người kháng chiến ở Đồng Tháp Mười. Theo bản tin, hai bên rút đi sau hai giờ giao tranh mà không có thương vong. Ông Trà rất ngạc nhiên và kết luận hoặc bản tin của BBC sai lạc, hoặc khả năng tác chiến của những cán bộ kháng chiến miền Nam cần được cải thiện.


 

Ngày hôm sau, đi cùng một người bạn, ông Trà đến gặp ông Lê Duẩn và nói cần đưa cán bộ tập kết vào Nam để tăng cường đào tạo cho các đồng chí ở đấy. Ông Duẩn được cho xem đề nghị gửi 100 cán bộ trẻ từ Bắc vào Nam.


 

Ông Lê Duẩn ngẫm nghĩ rồi nói sẽ khó thực hiện vì Bộ Chính trị chưa quyết. Khi ông Trà nhấn thêm, ông Duẩn hỏi liệu có giảm số lượng được không.


 

Con số mới đưa ra là 50. Ông Duẩn lại bảo ông sẽ tự chịu trách nhiệm nếu con số nhỏ hơn nữa. Cuối cùng, họ đồng ý về con số 25 người.


 

Tuy vậy, thế cân bằng quyền lực trong Đảng Lao Động Việt Nam sau đó bị phá vỡ.


 

<strong><em>Chiếm ưu thế</em></strong>


 

Những nghiên cứu gần đây đã cho biết rõ hơn làm thế nào ông Hồ Chí Minh mất dần ảnh hưởng trong tiến trình ra quyết định của Đảng Lao Động kể từ đầu thập niên 1960.


 

<em>Ghi chú dưới một bức ảnh: Ảnh hưởng của ông Hồ Chí Minh trong tiến trình ra quyết định của đảng thập niên 1960 bị suy giảm</em>


 

Nói như William Duiker, trong cuốn Hồ Chí Minh (2000), vai trò của ông Hồ ngày càng bị hạn chế ở tư cách “một nhà ngoại giao kỳ cựu và cố vấn cho chính sách ngoại giao, đồng thời làm tròn hình ảnh người cha tinh thần của nhân dân và linh hồn của cuộc cách mạng.” Uy tín cùng mối quan hệ rộng rãi – chẳng hạn, ông Hồ có quan hệ hữu hảo với Mao Trạch Đông – khiến nhóm lãnh đạo trẻ hơn trong Đảng Lao Động Việt Nam, dù muốn hay không, cũng không thể loại hẳn ông ra khỏi tiến trình chính trị và ngoại giao.


 

Dù vậy, tính đến thời điểm khi Mỹ chính thức đổ quân vào miền Nam năm 1965, vai trò của ông Hồ Chí Minh ở trong đảng chủ yếu chỉ còn mang tính lễ nghi.


 

Một trong những người thân nhất của ông Hồ, ông Võ Nguyên Giáp, cũng bị cô lập sau này. Đối với dư luận quốc tế đương thời, Võ Nguyên Giáp là người anh hùng thứ hai, chỉ sau ông Hồ Chí Minh, trong cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Nam. Nhiều người trong và ngoài Việt Nam thừa nhận ông là kiến trúc sư tạo nên thắng lợi lẫy lừng ở Điện Biên Phủ, và với quân đội miền Bắc, vị đại tướng có uy tín lớn.


 

Sau việc ký kết Hiệp định Geneva 1954, Lê Duẩn và nhiều người khác ủng hộ đấu tranh vũ trang ở miền Nam, trong khi ông Giáp thuộc nhóm chủ trương kiềm chế và thận trọng.


 

Ông Giáp, giống như ông Hồ, chấp nhận chủ trương “chung sống hòa bình” mà Liên Xô đưa ra lúc bấy giờ, và đồng thời tin rằng phải xây dựng nền tảng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc trước khi nghĩ đến đấu tranh vũ trang ở miền Nam.

 

<em>BBC trich riêng để nhấn mạnh: Thông qua việc cô lập ông Hồ, ông Giáp và các đồng minh của họ trong đảng, ông Lê Duẩn đã thiết lập một bộ máy lãnh đạo trung thành. Pierre Asselin</em>

 

 

Thái độ này của tướng Giáp đặt ra một thách thức lớn cho ông Lê Duẩn. Nhưng cuối cùng, ông Lê Duẩn đã giảm bớt được ảnh hưởng của ông Giáp trong bộ máy lãnh đạo của đảng. Việc cô lập tướng Giáp – cùng nhiều đảng viên cao cấp khác – đóng vai trò quan trọng cho việc tìm hiểu ông Lê Duẩn vì nó cho thấy người anh hùng trên chiến trường chưa hẳn là người chiến thắng trên chính trường.


 

Trong tiểu luận “Lê Duẩn, the American War, and the Creation of an Independent Vietnamese State”, trình bày lần đầu ở hội nghị quốc tế về Việt Nam học ở Hà Nội năm 1998, Pierre Asselin nhận xét: “Giống như Mao và Stalin, Lê Duẩn khao khát quyền lực tuyệt đối. Thông qua việc cô lập ông Hồ, ông Giáp và các đồng minh của họ trong đảng, ông Lê Duẩn đã thiết lập một bộ máy lãnh đạo ở Hà Nội không chỉ trung thành mà còn chung quyết tâm hoàn tất các mục tiêu cách mạng.”


 

Ký ức về Hiệp định Geneva năm 1954 cũng có thể đã khiến Lê Duẩn tin rằng để cách mạng thành công, ông phải loại bỏ hết những ai không tin vào chiến thắng bằng mọi giá.”

Nhiều chuyên gia cho rằng đây cũng là một phần tiền đề tạo nên cái gọi là “vụ án xét lại – chống Đảng.”


 

<strong><em>Tranh cãi tư tưởng</em></strong>


 

Hồi ký “Tử tù tự xử lí” của Trần Thư, người bị dính vào vụ được quen gọi là “vụ án xét lại – chống Đảng”, mô tả không khí lúc bấy giờ là “tâm lý chủ chiến bao trùm xã hội miền Bắc” và “nếu có ai chủ trương chung sống hòa bình và thi đua hòa bình giữa hai miền thì cũng chẳng dám nói ra.”

Mâu thuẫn giữa nhóm của ông Lê Duẩn và những người chỉ trích đạt đỉnh cao ở Hội nghị TƯ 9 năm 1963 và sau đó, tăng tốc với đợt bắt giữ nhiều người ở Hà Nội vào năm 1967.


 

<em>Ghi chú dưới một bức ảnh: Chuyến thăm Hà Nội của Chủ tịch Trung Quốc, Lưu Thiếu Kỳ (bên trái), năm 1963 đánh dấu việc hai nước xích lại gần hơn</em>


 

Tháng Giêng 1963, chủ tịch Novotny của Tiệp Khắc thăm Hà Nội và ra một tuyên bố chung phản ánh quan điểm của Liên Xô và ca ngợi chung sống hòa bình là “chính sách đúng đắn nhất.”


 

Nhưng sau khi Novotny về nước, xung đột giữa hai nhóm tạm gọi là “thân Liên Xô” và “thân Trung Quốc” trong đảng Lao Động căng thẳng hơn. Ngoại trưởng Ung Văn Khiêm bị quy trách nhiệm cho tuyên bố chung của Novotny và bị thay bằng ông Xuân Thủy.


 

Sử dụng tư liệu giải mật của Đông Đức, Martin Grossheim, trong bài nói về “chủ nghĩa xét lại” ở Bắc Việt, đăng trong tạp chí Journal of Cold War History tháng 11-2005, dẫn lời sứ quán Đông Đức ở Hà Nội năm 1963 nói các vị trí chủ chốt ở Bộ Ngoại giao, Thông tấn xã…đã được giao cho các cán bộ “theo sát đường lối Trung Quốc.”


 

Đây là các biện pháp chuẩn bị cho chuyến thăm của Chủ tịch Trung Quốc, Lưu Thiếu Kỳ, đến Hà Nội tháng Năm 1963. Chuyến thăm đưa Hà Nội đến gần hơn Trung Quốc, với tuyên bố chung gọi “chủ nghĩa xét lại” và “cơ hội hữu khuynh” là đe dọa chính cho phong trào cộng sản quốc tế.


 

Tư liệu giải mật cho biết sứ quán các nước Đông Âu có quan điểm gần Liên Xô như Đông Đức, Hungary và Tiệp Khắc, trong năm 1963, đã báo cáo rằng báo chí ở miền Bắc ngày càng phản ánh quan điểm “thân Trung Quốc.”


 

Sứ quán Đông Đức tháng Tám năm ấy kết luận “các nhân tố thân Liên Xô” trong đảng Lao Động đã bị cô lập một cách có hệ thống.


 

Đến tháng Chín, một bài báo của ông Lê Đức Thọ, Trưởng ban Tổ chức Trung ương, được in trên báo Nhân Dân. Trong đó, tác giả nói một số đảng viên bị ảnh hưởng của “chủ nghĩa xét lại” và vì thế nghi ngờ chiến lược thống nhất đất nước của đảng.


 

Phía Đông Đức lúc bấy giờ kết luận bài báo của ông Lê Đức Thọ là “một sự tấn công trực diện nhắm đến các đồng chí chia sẻ quan điểm thân Liên Xô,” và là một bước lớn trong sự chuẩn bị cho Hội nghị Trung ương lần thứ 9 sắp tiến hành.


 

Hội nghị Trung ương lần thứ 9 của đảng Lao Động ở Hà Nội diễn ra cuối năm 1963 trong bối cảnh vừa xảy ra cuộc đảo chính giết chết tổng thống Ngô Đình Diệm ở Sài Gòn, đã tạo nên câu hỏi có nhân cơ hội này để đẩy mạnh đấu tranh vũ trang ở miền Nam hay không. Đồng thời, cuộc cãi vã giữa Liên Xô và Trung Quốc trên trường quốc tế ngày càng căng thẳng, đặt Hà Nội trong tình cảnh khó xử, vì đảng Lao Động hiểu rằng để đạt mục tiêu thống nhất đất nước, họ sẽ phải dựa vào hai đồng minh này.


 

Tại Hội nghị TƯ lần thứ 9, các ông Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và Phạm Hùng đã phê phán chủ trương chung sống hòa bình và hội nghị kết thúc với nghị quyết đẩy mạnh công cuộc đấu tranh bằng vũ lực ở miền Nam.


 

Sau Hội nghị TƯ 9, nhóm do ông Lê Duẩn đứng đầu tăng cường phê phán “chủ nghĩa xét lại hiện đại” (ám chỉ chủ trương thi đua hòa bình giữa các nước có chế độ xã hội khác nhau, mà Liên Xô, dưới thời Khrushchev, cổ vũ, nhưng Trung Quốc thì chỉ trích).


 

Trong loạt bài “Tăng cường mặt trận tư tưởng để củng cố Đảng” của ông Lê Đức Thọ, được đăng sau Hội nghị TƯ 9, có sự thừa nhận rằng một thiểu số trong đảng không đi theo đường lối đã ra. Mặc dù bài báo không nêu tên cụ thể, nhưng theo các quan sát viên, sự ám chỉ nhắm đến những người như Bùi Công Trừng, Dương Bạch Mai, Lê Liêm, Ung Văn Khiêm…những người đã phát biểu phản đối nhóm của ông Lê Duẩn ở Hội nghị TƯ 9.


 

Ông Lê Đức Thọ cũng loan báo các đảng viên sẽ phải dự các lớp học tập và chỉnh huấn để thấm nhuần nghị quyết của Hội nghị TƯ 9.


 

Sứ quán Đông Đức khi ấy có được trong tay nội dung của các lớp học này, theo đó, các học viên phải hiểu sâu sắc sự khác biệt giữa “chủ nghĩa Mác - Lê chân chính” và “chủ nghĩa xét lại.”


 

Nhà nghiên cứu Martin Grossheim nhận xét chiến dịch chỉnh huấn này “không chỉ để đối phó các quan điểm bất đồng trong đảng, mà còn là công cụ tuyên truyền để chuẩn bị cho tinh thần của người ở miền Bắc trước diễn biến chiến tranh leo thang.”


 

<strong><em>Diễn biến 1967-68</em></strong>


 

Những tranh cãi trong nội bộ đảng không dừng lại ở năm 1963-64 mà sẽ tiếp tục trong giai đoạn 1967-68.


 

Ban đầu, vì lo ngại sẽ đánh mất sự hỗ trợ của Liên Xô, nhóm của ông Lê Duẩn thận trọng không đưa ra các tuyên bố công khai phản ánh thái độ bài Liên Xô và thân Mao. Vì lẽ đó, dự thảo nghị quyết của Hội nghị TƯ 9 ban đầu đã kèm cả đoạn văn lên án trực tiếp Khrushchev, nhưng do yêu cầu của Lê Duẩn, đoạn này được bỏ đi.


 

Tuy nhiên, Khrushchev mất chức Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô năm 1964, quân Mỹ đổ bộ vào miền Nam, và miền Bắc bắt đầu bị đánh bom năm 1965 – những diễn biến này đã đưa Hà Nội và Moscow gần nhau hơn. Kể từ đó, ông Lê Duẩn và các đồng minh cảm thấy đủ tự tin để

theo đuổi chiến dịch loại bỏ chủ nghĩa xét lại một cách công khai và gay gắt hơn.


 

<em>BBC trich riêng để nhấn mạnh: Nhóm thứ nhất dựa trên quan điểm rằng trí thức có vai tṛ quan trọng trong xă hội cộng sản, trong khi nhóm kia đặt giá trị cộng sản lên trên tri thức. Sophie Quinn-Judge</em>


 

Nghiên cứu gần đây nhất về sự kiện này, được Sophie Quinn-Judge công bố trên tạp chí Journal of Cold War History tháng 11-2005, ước lượng trong sự biến 1967-68, khoảng 30 nhân vật cao cấp bị bắt, và có lẽ có tới 300 người tất thảy, gồm các tướng lĩnh, nhà lí luận, giáo sư, văn nghệ sĩ và phóng viên truyền h́nh được đào tạo ở Moscow. Một trong những người bị bắt đầu tiên là Hoàng Minh Chính, nguyên Viện trưởng Viện Triết học, bị bắt tháng 7-1967 và bị tống giam.


 

Cần nói rằng người ta vẫn còn biết rất ít về quá trình ra quyết định của Đảng Cộng sản Việt Nam mấy chục năm qua.


 

Riêng trong vụ án xét lại 1967-68, không một ai liên lụy được mang ra xét xử. Cho đến thập niên 1990, một số người còn sống và gia đình người đã khuất vẫn gửi các thư và thỉnh nguyện xin phục hồi danh dự. Và như Sophie Quinn-Judge nhận định, “cho đến nay, chính quyền Việt Nam vẫn công bố rất ít các tài liệu về việc ra quyết định ở cấp cao hơn từ thư khố của chính họ.”


 

Có nhiều cách diễn giải khác nhau về sự kiện năm 1967-68.


 

Tài liệu có tiêu đề “Hoạt động của một số thế lực thù địch và chống đối” do Đảng Cộng sản phổ biến năm 1994, cáo buộc ông Hoàng Minh Chính và nhiều người dính líu vụ án chống Đảng là đã nắm một biên bản mật về một cuộc hội đàm Việt-Trung và định gửi ra ngoại quốc, đồng thời họ bị cho là thu thập tài liệu để tiến tới một chương tŕnh hoặc phác thảo đối lập để chống đối Đảng.

Trong khi đó, nhiều người bị tù thời kì ấy cho rằng một nguyên nhân của “vụ án chống Đảng” là vì ông Lê Duẩn và Lê Đức Thọ muốn dùng “hiểm họa xét lại” để hạ uy tín của ông Võ Nguyên Giáp. Chia sẻ phân tích này, Judith Stowe, trong bài “Revisionism in Vietnam” (1995) nói ông Võ Nguyên Giáp “là đối tượng chính của chiến dịch bài trừ khuynh hướng xét lại.”


 

Pierre Asselin, trong bài viết về Lê Duẩn, nói thêm “do quá nguy hiểm nếu công kích cá nhân ông Giáp, nên ông Lê Duẩn nhắm đến đội ngũ ủng hộ vị tướng, đặc biệt những người thân cận và trung thành nhất trong hàng ngũ cấp cao của Đảng và chính phủ.”


 

Sophie Quinn-Judge lại cho rằng vụ án chống Đảng 1967-68 thể hiện một cuộc đấu tranh tư tưởng, chứ không đơn thuần mang tính cá nhân, trong nội bộ đảng.


 

Đó là cuộc cạnh tranh giữa [một bên là nguyện vọng] thống nhất dân tộc (trong khuôn khổ liên minh yêu nước), phát triển khoa học và tiến bộ kĩ thuật với [phía bên kia là] khát vọng cách mạng của quần chúng và sức mạnh biến đổi của cách mạng bạo lực. Nhóm thứ nhất dựa trên quan điểm rằng trí thức có vai tṛ quan trọng trong xă hội cộng sản, trong khi nhóm kia đặt giá trị cộng sản lên trên tri thức.”

 

<strong>BBCVietnamese</strong>

______________________________________

 

 

 

<strong>Bài của BBCVietnamese</strong>

 

19 Tháng 5 2006 - Cập nhật 12h46 GMT

<strong>Một di sản gây tranh cãi

(kỳ 4)</strong>

 

Sau kết quả của điều gọi là “vụ án xét lại – chống Đảng”, cán cân quyền lực trong Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng nghiêng hẳn về phía ông Lê Duẩn.

 

<em>Ghi chú dưới một bức ảnh: Ông Lê Duẩn giữ chức Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam gần 30 năm</em>


 

Những người ủng hộ quan điểm của ông Lê Duẩn được đề bạt và trở thành một phần quan trọng trong cơ cấu lãnh đạo.


 

<strong><em>Các đồng minh</em></strong>


 

Sự trợ giúp mà ông Lê Duẩn nhận được từ ông Lê Đức Thọ trong suốt tiến trình thâu tóm quyền lực là vô cùng quan trọng.


 

Tham gia cách mạng từ những năm 1920, ông Lê Đức Thọ trải qua nhiều năm trong tù. Khi được thả năm 1945, ông được gửi vào miền Nam và làm phó cho ông Duẩn trong suốt giai đoạn xung đột giữa Việt Minh và Pháp. Quan hệ giữa hai người này sẽ có một ảnh hưởng sâu sắc trong đảng. Khi ông Lê Duẩn trở thành Tổng Bí thư, ông Lê Đức Thọ được cử làm Trưởng ban Tổ chức Trung ương, một vị trí mà theo William Duiker, được nhanh chóng “biến thành bộ máy hiệu quả để điều tra và kiểm soát các đảng viên.”


 

Pierre Asselin nói thêm rằng ông Lê Duẩn “không thể củng cố uy quyền một cách hiệu quả như đã làm nếu không có sự ủng hộ của ông Lê Đức Thọ; sự trung thành và trợ giúp của người này tỏ ra cần thiết để thanh lọc ban lãnh đạo ở Hà Nội.”


 

<em>Ghi chú dưới một bức ảnh: Ông Lê Đức Thọ được xem là đồng minh thân cận nhất của ông Lê Duẩn</em>

 

Một người đóng vai trò lớn trong cuộc chiến Việt Nam là đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Cho đến giữa thập niên 1960, miền Bắc chỉ có hai đại tướng bốn sao là ông Vơ Nguyên Giáp (Bộ trưởng quốc pḥng kiêm Tổng tư lệnh) và ông Nguyễn Chí Thanh (Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị).


 

Một số chuyên gia nước ngoài như Douglas Pike đã ghi nhận sự cạnh tranh và khác biệt trong tư tưởng quân sự giữa hai vị tướng này.


 

Trong một bài viết năm 1966, tướng Giáp nói cuộc xung đột ở miền Nam là một cuộc chiến kéo dài và rằng chiến lược quân sự có thể mất nhiều năm để đạt thắng lợi. Ông nói ông không tin vào “các trận đánh sử dụng đơn vị chính quy lớn vì điều này có lợi cho chiến lược của kẻ thù.”


 

Tướng Thanh ngay lập tức có phản ứng. Trong bài viết đăng ở tạp chí Học Tập, tướng Thanh cho rằng chiến lược tấn công ở miền Nam là con đường đúng dẫn đến thắng lợi và nói thêm rằng lập luận của những người chỉ trích là “không logich.”


 

Một trong những lý do đưa ông Lê Duẩn và ông Nguyễn Chí Thanh trở thành đồng minh gần gũi là vì ngay từ đầu, hai người cùng quan điểm rằng con đường dẫn đến thắng lợi ở miền Nam phụ thuộc vào quân sự.


 

Gần đây hơn, trong bài viết năm 2002 về vai trò của những người gốc miền Nam trong cuộc chiến mang tựa đề “Why the South Won the American War in Vietnam,” Robert Brigham ghi nhận tướng Giáp “từ lâu đã chỉ trích tư tưởng quân sự của tướng Thanh, và ông công khai bày tỏ nghi ngờ về hiệu quả của chiến lược tấn công của tướng Thanh...Ông Võ Nguyên Giáp ngày càng trở nên thận trọng và thực tiễn trong cuộc chiến chống Mỹ. Một số người nói điều này rốt cuộc khiến ông đánh mất uy quyền chính trị.”


 

Ông Lê Duẩn hiểu rằng việc giảm uy thế của tướng Giáp có thể tạo ra chỉ trích và chống đối. Vì thế, nói như lời của chuyên gia Pierre Asselin, “bằng cách đề bạt và tạo điều kiện cho sự nghiệp của tướng Nguyễn Chí Thanh, ông Lê Duẩn thành công trong việc tạo nên một thần tượng mới trong quân đội.”


 

Mặc dù đại tướng Nguyễn Chí Thanh qua đời đột ngột năm 1967, nhưng quan điểm của ông, rằng cuộc chiến nhân dân không thể thắng lợi nếu thiếu hỗ trợ của các đơn vị chính quy lớn, tiếp tục giữ ảnh hưởng ở Hà Nội. Từ cuối 1965 đến khi chiến tranh kết thúc năm 1975, ngày càng nhiều các sư đoàn bộ binh chính quy được đưa từ miền Bắc vào Nam.


 

Bằng cách giảm ảnh hưởng của những người như ông Hồ Chí Minh và tướng Giáp, và đề bạt những người trung thành, ông Lê Duẩn đã tạo ra một cơ cấu lãnh đạo mà những niềm tin và nguyên tắc lãnh đạo của nó để lại ảnh hưởng sâu sắc ở Việt Nam.


 

<strong><em>Thời hậu chiến</em></strong>


 

Cuối năm 1976, tại Đại hội Bốn, Đảng Lao động Việt Nam đổi tên thành Đảng Cộng sản Việt Nam.


 

Ông Lê Duẩn tái đắc cử chức Tổng Bí thư . Bộ Chính trị gồm 14 ủy viên chính thức: Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Duy Trinh, Lê Thanh Nghị, Trần Quốc Hoàn, Văn Tiến Dũng, Lê Văn Lương, Nguyễn Văn Linh, Võ Chí Công và Chu Huy Mân. Ba ủy viên dự khuyết là Tố Hữu, Võ Văn Kiệt và Đỗ Mười.


 

Nói về những người cộng sản giai đoạn hòa bình lập lại, David Elliott, trong quyển sách được đánh giá cao The Vietnamese War (2003), nhận xét những thành viên cách mạng còn sống đến phút cuối cuộc chiến “thường là những người cứng rắn, giáo điều và tin tưởng tuyệt đối vào cách mạng. Nhưng đây không phải lúc nào cũng là những người đủ khả năng đưa VN đi tiếp trên đường phát triển.”


 

Họ đã từng thể hiện sự dũng cảm phi thường, thậm chí anh hùng. Nhưng họ cũng đã học những thói quen để sống còn mà giờ đây kiềm chế sự phát triển của một hệ thống cởi mở hơn thời hậu chiến...Quan trọng nhất, niềm tin rằng phong trào cách mạng quan trọng hơn mọi quyền lợi cá nhân đã dẫn tới sự coi thường quyền và lợi ích của nhân dân, và thường trở thành cớ cho việc lạm dụng quyền lực của những cán bộ, những người coi thường quy tắc pháp trị tư sản và cho rằng mục tiêu cách mạng có thể biện minh cho phương pháp.”


 

Pierre Asselin, trong tiểu luận về Lê Duẩn, đã nói thay nhiều người khi cho rằng “dưới thời Lê Duẩn, ít thay đổi tích cực nào xảy ra ở Việt Nam giai đoạn sau khi thống nhất.”


 

Tháng Bảy năm 1986, trước lúc diễn ra Đại hội Đảng lần thứ Sáu, ông Lê Duẩn qua đời. Sự ra đi này mở cánh cửa cho quan hệ gần hơn với Bắc Kinh – do ông Lê Duẩn sau này đã trở thành biểu tượng của sự không đồng thuận về nhiều điểm với Trung Quốc – và sau đó, với các chính phủ Tây phương, trong đó có Mỹ.


 

Cũng từ 1986, việc đề cử ông Nguyễn Văn Linh lên làm tân Tổng Bí thư, và chính sách Đổi mới, đã đánh dấu sự chấm dứt của thời kì lãnh đạo đất nước kiểu Stalin ở Việt Nam.


 

Ở đây, những thay đổi ngay sau năm 1986 ở Việt Nam cũng có thể được xem là tương tự giai đoạn “tan băng” ở Liên Xô sau khi Stalin qua đời, hơn là giống quá trình perestroika đang diễn ra khi đó dưới thời Gorbachev.


 

Một tác giả, Seweryn Bialer, viết về Liên Xô giai đoạn sau khi Stalin qua đời và Khrushchev lên kế nhiệm: “Đó là giai đoạn xôn xao, có phản ứng sẵn sàng hơn trước các sức ép cả có thật lẫn được mong chờ, một giai đoạn có tiềm năng cho phép nới rộng sự tham gia chính trị. Sự kế nhiệm, bên cạnh tầm quan trọng tự nhiên của nó, cũng là chất xúc tác cho các sức ép và khuynh hướng vốn từ lâu tồn tại bên trong xã hội nhưng đã không có cơ hội được bày tỏ và nhận diện.” Những diễn biến ở Việt Nam sau khi ông Lê Duẩn qua đời gần với những gì đã xảy ra sau cái chết của Stalin hơn là thời Gorbachev.


 

<em>BBC trich riêng để nhấn mạnh: Niềm tin rằng phong trào cách mạng quan trọng hơn quyền lợi cá nhân dẫn tới sự coi thường quyền và lợi ích của nhân dân. (David Elliott, trích trong quyển The Vietnamese War)</em>


 

Giai đoạn nắm quyền của ông Nguyễn Văn Linh, giống như thời Khrushchev, cũng chấm dứt đột ngột để Đảng có thể bổ nhiệm một lãnh đạo khác ít “cấp tiến” hơn, thận trọng hơn.


 

<strong><em>Có thể đánh giá thế nào về cuộc đời và di sản của ông Lê Duẩn?</em></strong>


 

Với cương vị Tổng Bí thư, vai trò chính của ông Lê Duẩn cần được thừa nhận trong những quyết sách của Đảng Cộng sản trong cuộc chiến Việt Nam.


 

Mặc dù miền Bắc đã nhận nhiều viện trợ của Liên Xô và Trung Quốc, các nghiên cứu gần đây – như của Ilya Gaiduk, Chen Jian, Mari Olsen – cho thấy Hà Nội duy trì sự tự chủ trong cách tiến hành chiến tranh chống Mỹ. Tư liệu mới cho thấy trong từng thời kì, cả Bắc Kinh, Moscow và Hà Nội đều có sự bực bội và nghi ngờ lẫn nhau. Dưới thời ông Lê Duẩn, Đảng Cộng sản hợp tác với Liên Xô và Trung Quốc để đạt mục tiêu, nhưng không phải là con rối trong tay hai cường quốc.


 

Các tài liệu chính thống ở Việt Nam hiện nay đều dành sự ca ngợi vẹn toàn cho ông. Tuy nhiên, ẩn đằng sau những hàng chữ chính thống ấy còn là những sự tế nhị khác.

Cuối những năm 90, có quyển hồi ký của ông Trần Quỳnh – nguyên thư ký riêng của ông Lê Duẩn và sau này là Phó Thủ tướng.


 

Tập sách này không được lưu hành chính thức. Nội dung sách hoàn toàn ca ngợi ông Lê Duẩn, nhưng có thể cũng chính vì giọng văn quá ca ngợi này, cuốn sách – vô tình hay cố ý – đã khơi lại những tình cảm u uất trong nhiều người. Đáng lưu ý, tác giả nói một mục đích khi viết sách là để chống lại hành động “làm lu mờ bôi nhọ h́nh ảnh của Lê Duẩn.”


 

Nếu quả thật, như ông Trần Quỳnh cáo buộc, rằng “sau khi Lê Duẩn qua đời, những người lănh đạo đất nước, những người trước đó đă ca ngợi Lê Duẩn, không dám hé răng nói một lời xấu về Lê Duẩn, đă cố ư hay vô t́nh để cho chiến dịch bôi nhọ và phủ định Lê Duẩn ngày càng qui mô hơn,” thì là vì sao?


 

Trong giai đoạn làm Tổng Bí thư, ông Lê Duẩn có kẻ thù ở hầu khắp mọi nơi. Vì thế, như chuyên gia Pierre Asselin chỉ ra, sự nghi ngờ của ông Lê Duẩn lớn đến mức ông “dựa vào chỉ một vài cá nhân trong việc tìm lời khuyên và chuyên môn.” Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà từ 1986, công thức cân bằng vùng miền (Bắc – Trung – Nam) đã được dùng khi xét đến ba vị trí lãnh đạo nhà nước ở Việt Nam. Những bất mãn về sự tập trung quyền lực trong tay vài người đã là một trong các nguyên nhân dẫn tới việc phân bổ quyền lực rộng hơn sau 1986.


 

Stein Tonnesson, trong lời giới thiệu cho tư liệu “Lê Duẩn and the Break with China” (2001), nhận xét ông Lê Duẩn “là lãnh đạo có quyền lực lớn thứ hai ở Việt Nam trong thế kỷ 20.” Quyền lực ấy đã được sử dụng thế nào có lẽ là câu hỏi lớn mà bất kì nghiên cứu nào trong tương lai đều sẽ muốn tìm một câu trả lời đầy đủ.

 

 

<strong>BBCVietnamese</strong>

 

_____________________________


 

Chú thích lời dẫn của TXA.:

Trích lại mục 15 chú thích 2:

http://c.1asphost.com/TrXuanAn/an/mua_hbsong

/mua_hbsong_ct2.htm


 

<em>"... Trên tinh thần khoa học, chúng tôi không dám khẳng định các chi tiết cụ thể, sinh động về hành trạng chính trị, nhất là về đời tư của các nhân vật lịch sử hiện đại (giữ vai tṛ chủ yếu nửa sau thế kỉ XX) có đề cập trong tiểu thuyết này là đúng với sự thật lịch sử. Đó chỉ là những "thông tin chưa kiểm chứng" trên các đài phát thanh nước ngoài, những dư luận trong đời sống, trên sách báo... Chúng tôi chỉ làm công việc phản ánh dư luận xă hội đồng thời minh định các "thông tin", dư luận ấy, với điều kiện hạn chế của người viết tiểu thuyết, trong khi chờ chính sử hiện đại được công bố. Tuy nhiên, tôi vẫn băn khoăn, liệu bộ chính sử hiện đại có được trung thực, hay các nhà sử học hiện nay chỉ biên soạn sử để tuyên truyền, và đành chấp nhận thua kém cả những bộ sử thời phong kiến về tính trung thực? Phương châm đồng thời cũng là nguyên tắc ngày xưa khẳng định quyền hạn và tính độc lập của các nhà chép sử, đại ư: Trong nước có ba đại quyền tối thượng: <strong>quyền sử gia, quyền Trời, quyền vua</strong>. Trong ba loại quyền to lớn ấy, quyền sử gia c̣n được đặt trước cả quyền Trời, quyền vua. Sử gia phải có quyền bất khả xâm phạm (không một ai, một thế lực nào có thể làm sức ép, chi phối, cưỡng bức, giam tù, giết hại, kể cả quyền lực đế vương). Phương châm - nguyên tắc ấy là kim chỉ nam và là quyền hạn được xác định, nhưng cũng là vũ khí để đấu tranh trước các loại sức ép. Vũ khí phương châm - nguyên tắc đó của sử gia không phải chỉ được sử dụng trong thời xa xưa mà trong mọi thời, kể cả thời toàn xă hội xem quyền Trời là không có thật. Thời đại nào quyền bất khả xâm phạm của sử gia được tôn trọng và bảo vệ với cơ chế cụ thể, có hiệu lực, được trang trọng ghi vào pháp luật, thời đại đó tự thắp sáng tính ưu việt của nó trong lĩnh vực rất cần sự trung thực, quang minh chính đại này.

Trước khi bộ chính sử hiện đại thật sự trung thực được công bố, nhà xuất bản và bạn đọc có thể cắt bỏ hoặc lướt qua (xem như không có) các chi tiết như trên đă viết, để tránh bị các lực lượng, các cá nhân thù địch, tâm địa không tốt lợi dụng với mục đích xấu". TXA.</em>


 

_________


 

11 giờ 10 phút,

20 tháng 5 HB6 ( 2006 )

[ 23-04 Bính tuất HB6 ]

tại Tp. HCM., Việt Nam


 

13

 

10/24/2006 “CĂN HỘ”, “NHÀ” HAY WEBLOG, WEBSITE...


 

14


 

10/31/2006 XÁC ĐỊNH CHÂN DUNG & ĐÍNH CHÍNH NIÊN KỈ PCĐT. TÔN THẤT THUYẾT & VUA HÀM NGHI

 

15


 

11/07/2006 THƯ MỤC TRỰC TUYẾN INTERNET CỦA THƯ VIỆN QUỐC HỘI HOA KỲ


 

16


 

11/20/2006 THƯ MỤC TRỰC TUYẾN THƯ VIỆN BÁO SÀI G̉N GIẢI PHÓNG


 

 


 

TRANG PHU 3

tổng cộng : mười sáu (16) tệp (files).


 

Để LƯU

07 tháng 12 năm 2006 (HB6)

Trần Xuân An


 


 

 

 

 

 

 

 


 

 

 

 

 

 

CHÂN THÀNH CẢM ƠN 

Docs.Google.com, 1asphost.com

(Cti "văn khố" Google, Cti "kho lưu" 1asp)

& Yahoo, MSN. search

 

 


 


 

Nobody have permission for editting this document.