Đby l` bộ nhớ cache http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=19142&print=yes của Google. Đby l` ảnh chụp nhanh của cac trang được hiển thị v`o 9 Thang Ba 2009 11:17:26 GMT. Trang hiện tại cs thể đc thay đổi trong thời gian chờ đợi. Tlm hiểu thjm

Phijn bản chỉ văn bản
Cac thuật ngữ tlm kiếm n`y được tt sang: nguyễn quốc trị nguyễn văn tường  
Nguoi-viet Online
Sự ngụy tạo lịch sử của thực dân Pháp
Tuesday, February 22, 2005

Lời Tòa soạn:

Trải qua nhiều số báo, bạn đọc đã theo dõi loạt bài của Giáo sư Nguyễn Quốc Trị về những sự ngụy tạo tài liệu của thực dân Pháp hầu có lợi cho họ trong giai đoạn Pháp thôn tính nước ta. Cùng với 80 năm cai trị Việt Nam tiếp theo đó, những sự bóp méo lịch sử ấy đã gây tác hại cho nhiều thế hệ người Việt Nam, mà nói theo tác giả Nguyễn Quốc Trị, làm “mất niềm kiêu hãnh đối với quá khứ của dân tộc, và khinh miệt tiền nhân của mình.” Chúng tôi nghĩ đã đến lúc tất cả chúng ta nên hết lòng nghiên cứu tìm hiểu lại những méo mó của lịch sử nước nhà, tạo nên do nhu cầu chính trị hay quyền lợi một thời của bất cứ phe phái nào, và đặt để lại sự việc đúng như đã xảy ra. Chắc chắn nhiều chỗ trong lịch sử Việt Nam đã và có thể là đang bị xuyên tạc nặng nề, vì thế công việc của những kẻ có lòng với đất nước càng thêm khẩn thiết.

Thế Kỷ 21 chân thành cám ơn công trình của Giáo sư Nguyễn Quốc Trị mà số này chúng tôi đăng đến bài chót, đã đóng góp nhiều sự minh xác cho một mảng sự việc mang nhiều lệch lạc do bàn tay của người Pháp. Chúng tôi cũng xin chờ đón những công trình khác của nhiều tác giả khác, góp phần trả lại sự thật cho lịch sử của chúng ta.

*

6. Nguyễn Văn Tường ăn của lót để cho phép và cấm nhập cảng “đồng tiền dị dạng”?

Như trên đã nói, sau khi mở các hải cảng cho phép thông thương buôn bán, thương gia Tàu mang nhiều tiền đồng khác kiểu vào,Triều đình đã cấm rồi lại cho lưu hành, và cho phép dùng tiền lạ đó để trả thuế. Thượng thư bộ Hộ NVT liên hệ gì đến vụ cho phép đó để bị gièm là ăn của đút của người lái buôn Khách? Chính sử đã thuật lại câu chuyện, xảy ra gần cuối 1878, khá rõ ràng như sau:

“Bỏ lệ cấm tiền đồng khác kiểu, để đánh thuế, gần đây, các người buôn nước Thanh, thu nhiều tiền đồng khác kiểu, tải đến các cửa biển từ tỉnh Quảng Nam trở vào Nam, để trao đổi với nước ta, tháng trước đã chuẩn cho nhân dân, nếu có lấy nhầm, thì cho thu nhập ở tỉnh đổi cho tiền kẽm [mỗi quan tiền đồng đổi lãnh hai quan tiền kẽm, tiền đồng ấy đúc thành đồng để vào kho]. Đến đây bọn Khâm sai ở Quảng Nam là Hoàng Diệu, hộ phủ là Lâm Hoành, Khâm phái Quảng ngãi là Đàm Khắc Nhượng, bố chính là Đoàn Dao tâu lên nói: người buôn nhân đó chọn lấy, dân nghèo mua gạo không được, tình lại càng khổ, đều xin bỏ cấm. Bộ Hộ nghị lại, cho là tiền như nước suối, phép phải lưu thông luôn, tìm hiện nước ta, lưu hành ở các xứ Bằng Tường, Ninh Minh tỉnh Quảng Tây và Mã Cao tỉnh Quảng Đông rất nhiều, họ dùng mà ta cấm, không những hại cho dân ngay ở trước mắt, sợ đến khi ta thiếu mà họ thừa, nếu, hoặc lo họ trà trộn, thì chỉ trong khoản 5,6 phần, trà trộn được bao nhiêu, thà rằng cấm mà không tiện không chu đáo, sao bằng cho lưu thông để tìm tòi rồi rào thì hơn, nay xin không cứ thuyền buôn nước nào, nếu có hiệu kiểm tiền đồng, tiền kẽm nước ta, đều cho đem đến buôn bán, nhưng khi vào cửa biển phải báo ngay cho quan coi cửa biển xét thực, chiếu lệ đánh thuế [trăm phần trăm thu 10 phần], nếu có ẩn lậu, chiểu thương ước tịch thu cả tiền trong thuyền vào nhà nước, viên quan tỉnh và coi cửa biển không kiểm soát được, chiểu luật trị tội, người tố cáo ra mà được sự thực trích một nửa tiền ở thuyền để thưởng cho như thế thì người buôn tham lợi tranh nhau mà đến, tốn đồng kẽm, công thợ, vật liệu của người, mà sung vào tiền hiệu thuế quan của ta, tưởng cũng hơi tiện. [ ] Vua bảo rằng: hai hạt Lạng Sơn Cao Bằng, quen dùng tiền nước Thanh, từ trước đến nay, cũng cho, chuẩn cho lục sức thi hành ngay để giúp sự cấp bách cho dân.” (ĐNTL, XXXIV, 176-7, NQT nhấn mạnh)

Như vậy, nguyên ủy của sự cho phép nhập cảng tiền đồng là do ở lời yêu cầu của các quan ở địa phương, như Khâm Sai Hoàng Diệu, Hộ phủ Lâm Hoành tâu lên vua để giúp dân nghèo. Vua giao cho bộ Hộ dưới quyền của Thượng thư NVT để xét trình. Bộ tán thành việc bỏ cấm, không những để giải quyết vấn đề cho dân nghèo, mà còn để nhân đó thâu thêm được thuế, và có thêm tiền tệ lưu hành mà khỏi phải tốn chi phí đúc tiền. Hơn nữa, sự thi hành lệnh cấm lại tốn kém mà khó lòng đạt hiệu quả 100%. Mọi sự đều được quyết định và thi hành một cách quang minh chánh đại, vì quyền lợi chung, và do nhiều người và cơ quan của Triều đình điều nghiên, và vua Tự Đức quyết định tối hậu, đúng theo thủ tục, luật lệ thời đó. Tuy nhiên, nhân dịp được phép đó, một số gian thương mang vào tiền giả làm ở Hồng Kông, gây xáo trộn trên thị trường tiền tệ, nên vào năm 1879 và 1880, Triều đình lại phải lặp đi lặp lại lệnh cấm nhập khẩu tiền giả xấu này, kêu là “tiền dị dạng”: (ĐNTL, XXXIV, 279, 304). Một dụ cấm ban hành vào giữa 1880 có nói là tất cả những kẻ vi phạm đều phải bị tội trượng, không trừ người Âu, tức trái với điều 17 của Hiệp ước 1874. Rheinart đưa tối hậu thư của Pháp hăm phong tỏa các hải cảng, nếu trừng phạt trượng đó được áp dụng cho người Âu. (Livre Jaune A, 156, dẫn do Delvaux, “Quelques précisions . . .”, BAVH, Ibid., 221; “M. Rheinart . . .” BAVH, Ibid., 79-80). Lệnh cấm được tu chỉnh vào cuối 1880 như sau cho thích hợp với Hiệp ước 1874, và làm vừa lòng phía Pháp:

“Định rõ lại lệ cấm chở trộm tiền dị dạng. [Từ nay trở đi, tiền dị dạng, thuyền buôn nếu có chở trộm đến cửa biển, là thuyền của nước ta, thì chiểu luật lệ nước ta, thuyền và hàng hóa tịch thu hết, xử phạt hết mức trưởng đem đi lưu; nếu là người nước ngoài thì đều chiếu theo khoản thứ 24 trong thương ước tra bắt tịch thu hết, không được đến buôn nữa].” (ĐNTL, XXXIV, 355-6, NQT nhấn mạnh)

Đồng thời, Triều đình có gởi thơ nhờ các nhà chức trách Pháp, Tàu, và Anh trợ lực trong việc bài trừ vụ tiền giả mạo này, và kết quả có đôi phần khích lệ khi vào hè 1882, vua Tự Đức:

“Cho đem đồ vật tặng tổng đốc án sát nước Anh ở Hương Cảng. [Trước đây viện Cơ mật và Thương bạc bàn rằng tiền giả đem vào nước ta, là do người buôn nước Thanh đúc ra ở Hương Cảng, muốn ngăn tệ ấy, trước lấp tự nguồn, tâu xin đưa thư cho quan nước Anh xem xét bắt được thực tang xét xử trị tội, do phái viên sang Hương Cảng báo cho biết. Vua cho đem phẩm vật để tặng . . .]” (ĐNTL, XXXV, 157).

Ngoài ra, không có một chỗ nào trong toàn thể bộ chính sử nói rằng NVT có liên can gì, ngoài sự bị gièm pha đã kể, đến một vụ hà lạm, hay hối lộ nào về tiền tệ, thuế má, hay thương mãi nào cả, mà chỉ có sử sách của người Pháp thực dân bịa đặt, xuyên tạc, hay bóp méo câu chuyện để bôi lọ NVT mà thôi. Một người viết sách dựng ra câu chuyện dựa vào tin đồn thất thiệt nằm trong khuôn khổ chiến dịch chính trị xuyên tạc của thực dân, rồi các người khác ùa theo người đó viết như vậy, có khi viện dẫn xuất xứ, có khi không. Rồi họ thêu dệt thêm, bóp méo, tiểu thuyết hóa, thi vị hóa, kéo dài mãi mãi chừng nào mà nền sử học thực dân còn tài nguyên, phương tiện để bênh vực, phát triển đường lối thực dân trên thế giới. (Xin xem một trường hợp xuyên tạc điển hình người viết đã trình bày: “Nguyễn Văn Tường có tư thông với bà Học Phi và giết vua Kiến Phúc không?” ở cùng chỗ trên mạng lưới này). Mãi về sau, vào 1941, cũng trong khuôn khổ hệ thống tuyên truyền đó, LM Delvaux, tiếp tục vu cáo NVT ăn hối lộ như sau:

“Vào cuối 1884, Nguyễn Văn Tường cho cưỡng bách tịch thu những đồng tiền lớn bằng đồng và thay thế bằng những đồng tiền mới quá nhẹ đến nỗi chúng có thể lội trên mặt nước [nagent sur l’eau]. Những nhà buôn và người khá giả nào không muốn nhận đồng tiền mới, bị hà hiếp rất dữ và tất cả các chợ bị bỏ hoang. Rút cục, một trong những người Hoa đã đúc tiền đó, theo lệnh của chính Tường, bị xử tử ở chợ An Hòa để thoa dịu lòng phẫn nộ của quần chúng đã đi đến chỗ nổi loạn, trong lúc mà Tường đã thâu vào túi một số tiền ngoạn mục [alors que le Régent Tường avait réussi un superbe coup de bourse].” (Delvaux, “Quelques précisions . . .”. BAVH, Ibid., 254-5, NQT dịch và nhấn mạnh)

Tác giả không cho biết tin này xuất xứ từ đâu, mặc dầu trong toàn bài khảo luận, vị linh mục có đưa ra nguồn tin tham khảo ở nhiều chỗ khác. Trong đoạn dẫn trên, tác giả có đánh chú thích số 2 [sau chỗ “nagent sur l’eau”], và giải thích rằng LM Max de Pirey đã có biểu diễn việc đồng tiền bơi trên nước trước nhiều khán giả. Tại sao lại có một ông Cha Tây sách động quần chúng Đại Nam chống chính phủ của họ, mà không phải là một linh mục bản xứ? Phải chăng vì Triều đình, theo hiệp ước, không có quyền xử tội một người Pháp mà phải giao trả họ cho nhà chức trách Pháp? Việc này có thể có liên quan mật thiết đến những âm mưu ngấm ngầm của nhà cầm quyền Pháp, nhằm lũng đoạn nền tài chánh của Việt Nam qua vấn đề tiền đồng này, như vụ xung đột Pháp-Việt, xảy ra vào đầu thập niên 1880 sau đây, đã gợi ý:

“Dân trong hạt [Phú Yên, NQT ct.] là Lê Văn Lợi năm trước tải lậu tiền đồng dị dạng, quan tỉnh ấy chiểu lệ tịch thu số tiền ấy và giam xét, tên ấy vượt nhà giam trốn đến cửa biển Thị Nại ở Bình Định nương nhờ viên lãnh sự Pháp, viên ấy cho khai liều là quê ở Gia Định; rồi nhận là người dân tây, phải do viên lãnh sự ấy xét định. Đã chuẩn tư cho chủ súy Pháp, đợi chủ súy ấy xét định. [Bố chính sứ là Đinh] Nho Quang không theo đợi, lại ủy phái người đến cửa Thị Nại để bắt. Lãnh sự Pháp giải thoát cho Văn Lợi, đem đánh trói người được phái đi bắt ấy; rồi tư cho quan tỉnh Bình Định phải trả lại số tiền đã tịch thu và phạt Nho Quang 20 đồng bạc.]” (ĐNTL, XXXV, 45, NQT nhấn mạnh).

Không những phía Pháp che chở cho người buôn lậu, như đã nói, mà đất Gia Định thuộc Pháp còn làm căn cứ cho lái buôn Khách trữ tiền giả. Thật vậy, vào cuối 1881,

“. . . điền nông phó sứ là Nguyễn Thông dâng sớ nói: khách buôn nước Thanh đem tiền đồng kiểu lạ đến chứa ở phố Gia Định, mà dân tỉnh Bình Thuận, Khánh Hòa thông thương với nhau, những người buôn gian giảo mua tiền ấy chở về đổi lấy tiền kẽm, bạc đồng, sự tệ hại rất nhiều. Xin cho tiền ấy cứ 2 đồng ăn 1 đồng tiền của ta, khiến cho người buôn bán không còn lợi được. [ ] Vua không cho. . . .” (ĐNTL, XXXV, 47, NQT nhấn mạnh)

Để làm lũng đoạn nền tiền tệ của Việt Nam, nhà chức trách Pháp cũng không ngần ngại dùng nhiều thủ đoạn khác. Họ đã vi phạm chủ quyền của Triều đình bằng cách cấp giấy phép cho người Việt mang tiền do quân Pháp chiếm đoạt trong ngân khố nhà nước khi Henri Rivière chiếm thành Hà Nội, đem đi đổi ra bạc đồng của Pháp (piastres). Vào tháng 5, 1882 Nguyễn Thị Tiết đáp tàu “Le Saigon” từ Hải Phòng ghé vào cảng Thị Nại (Qui Nhơn) để đổi 43 bao tiền đồng mà cả hai sở thương chánh Việt và Pháp cùng đếm cả thảy là 129 quan. Thị Tiết khai rằng tiền này do viên chức Pháp giao để vào Thị Nại đổi lấy bạc đồng Pháp (piastres) cho họ. Lãnh sự và Chánh sở thương chánh Pháp ở Thị Nại nói rằng đó không phải là tiền giả mà đúng là tiền của chính phủ Việt Nam, và Thị Viết có giấy phép (của Chánh sở Thương Chánh Pháp ở Ninh Hải cấp theo đề nghị của vị chỉ huy hải quân Pháp), nên đòi và được bên Việt Nam thuận giao hoàn lại số tiền để đổi. Kết quả cuộc điều tra của nhà chức trách Việt ở Hà Nội xác nhận ý kiến của thương chánh Việt ở Thị Nại là số tiền này lấy từ kho tỉnh Hà Nội, và cho biết thêm là một viên thông ngôn Việt ở Hải Phòng đã xin với các quan Pháp cho Thị Viết giấy phép chuyên chở tiền đó. Nhà chức trách Pháp ở Hà Nội công nhận đã có lấy tiền ở kho tỉnh để trả công thợ, nhưng nói không có đưa cho Thị Viết để chở đi đổi. Nhân vụ này, quan Thương Bạc cho phía Pháp hay rằng nhân khi thành Hà Nội bị chiếm, kho bạc mất trên 10.000 quan tiền đồng mà Pháp chỉ trả có 2.700 quan, và số tiền Thị Viết mang đi được xác nhận là lấy từ kho mà ra, nên yêu cầu phía Pháp giải quyết trả lại cho Việt Nam cho phải lẽ. Mặc dầu Rheinart tin rằng viên thông ngôn có tội, và yêu cầu điều tra, chính ông ta đề nghị phía Pháp lơ không trả lời. (CAOM, GGI, Etat Major, Cabinet Militaire, 1882, Archives historiques, số 21, 17-11-1882, số 22, 16-12-1882, và 1883, số 9, 2-2-1883)

Ngoài ra, như đã nói, khi dụ cấm nhập khẩu tiền đồng đòi xử nặng tất cả các kẻ vi phạm, thì Pháp gởi tối hậu thư cho Triều đình hăm dọa phong tỏa các hải cảng, nếu trừng phạt đó được áp dụng đối với người Âu. Năm 1885, trong khuôn khổ chiến dịch đánh phá Triều đình Huế của “nhóm Hà Nội,” Tướng Brière de l’Isle phúc trình với Bộ Trưởng Chiến Tranh rằng Triều đình đã tự ý cho lệnh nhập cảng tiền đồng và ấn định hối xuất với tiền kẽm, không xin phép trước của Pháp, và lặp lại việc vu cáo NVT trước kia đã ăn hối lộ người Tàu để cho nhập cảng tiền giả. (Thơ ngày 21-5-1885, AMAE [Văn khố bộ Ngoại giao Pháp], Carton 47) Như đã kể trên, vua Tự Đức đã thân hành điều tra vụ này, và không những đã minh oan cho NVT là đã bị gièm pha, mà còn nhân đó khen ngợi công lao của ông trong việc tăng gia tài nguyên thuế khóa của nhà nước để tài trợ cho nhu cầu quân sự.

Như vậy, từ những hành vi đã kể trên của nhà chức trách Pháp mà suy diễn ra rằng họ đã âm mưu phá hoại nền tiền tệ của Việt Nam có gì quá đáng hay không? Rồi đồng thời hô hoán lên là NVT ăn hối lộ để cho nhập khẩu tiền đồng!

Một điều đáng lưu ý nữa là vào thời điểm cuối năm 1884, lúc mà LM Delvaux nói việc hối lộ xảy ra, thì ông Phạm Thận Duật đã làm Thượng thư bộ Hộ phụ trách vấn đề tiền tệ này, và NVT đã đổi qua bộ Lại từ đầu năm 1884 rồi. Mặt khác, vào thời đó, có hai sự kiện ghi trong chính sử liên quan đến vấn đề do LM Delvaux đề cập ở đây. Nếu tác giả dựa vào đó mà suy diễn ra việc NVT ăn hối lộ của thương gia Tàu, thì quả dụng tâm xuyên tạc của tác giả quá trắng trợn. Việc thứ nhứt chính sử ghi lại là:

“Người lái buôn nhà Thanh là Lý Thành Long chở ngầm tiền đồng kiểu khác [thuê tàu thủy Địa-lỵ-a chở 20 bao, bao chứa vào trong thùng] đưa vào vùng biển An Vĩnh Quảng Ngãi, việc ấy phát ra kết án phạt trượng và phát lưu. Bộ Hộ đổi xin trảm quyết. Phụ chính phúc duyệt lại xin y. [Vua, NQT ct.] Chuẩn cho chính pháp ngay; thông lục cho các địa phương có nơi nào như thế, cung tuân làm một lượt. Rồi thì phố Gia Hội, phố Đô Hạ có hiệu buôn của bọn La Đậu, Phan Vu Hán và Phù Định Tam là người buôn nhà Thanh dùng tiền đồng kiểu khác, ngầm đem mua bán với nhau, cũng kết án chém ngay [La Đậu, Phan Vu Hán], trảm giam hậu [Phù Định Tam] có sai bậc.” (ĐNTL, XXXVI, 179-180, NQT nhấn mạnh)

Chuyện thứ hai do chính sử ghi nhận cũng xảy ra tiếp theo vụ trước và vào thời điểm đó là:

“Định lệ tiền đồng kiểu lạ một đồng ăn bốn đồng tiền kẽm và vàng bạc tăng lên giá. Khi ấy các tỉnh Thừa Thiên, Phú An, Bình Định, Quảng Trị, có số tiền đồng kiểu khác, hai ba năm nay lưu bá số nhiều, đã sai phủ Thừa Thiên quyền trích tiền đồng ở kho hơn 2.000 quan, yết cho quân dân đem đồng tiền lạ kiểu đổi cấp tiêu dùng. Duy của chung khó chu, cho nên chuẩn cho đình nghị, giảm bớt, nên trọng cấm để cứu lấy tệ; bèn định từ nay đi, phàm đồng tiền của nước ta trừ ra hai hạng nặng 9 phân, vẫn ăn 6 đồng như cũ, còn các hạng tiền đồng 6, 7 phân trở xuống, cùng thứ tiền kiểu lạ mới cũ các hạng, mỗi đồng đều giảm ăn 4 đồng tiền kẽm. Phàm chợ búa mua bán đều xét kỹ những tự dạng ở vành quách đồng tiền cho minh bạch, cho được tiêu dùng. Nếu có sứt mẻ, oeo vậy, phải báo quan xét trị. Còn bọn buôn gian chở ngầm và đem đồng tiền của nước ta rút ra ngoài, không kể người ta hay người Thanh, tang số nhiều hay ít, tức thì chém ngay, như án của Lý Thành Long gần đây mới biết. Vả lại giá chung vàng bạc của nước ta chưa có chuẩn định, đến nỗi tiền đắt mà vàng bạc rẻ. Đến đây nghị chuẩn cho giá vàng, cứ một lạng vàng đủ 10 tuổi giá vàng 300 quan, tám, chín tuổi trở xuống thì giá giảm dần xuống mỗi lạng sụt xuống 15 quan, nhà chung hay nhà riêng cũng đều chiếu theo giá ấy cấp mua khấu nộp, hoặc lâm thời giá chợ có cao hơn lên, thì mua bán cũng tùy theo giá chợ mà tiêu dùng, nhưng không được giảm rẻ hơn giá nhà nước đã định. Nếu ai trái ấy, thì dùng luật vi chế mà xử tội, lại phạt thêm 100 lạng bạc, đều thông lục yết sức thi hành. [Khi ấy lệnh định giá vàng bạc sức xuống, bọn vô lại và hiểu sự ở chợ phố phần nhiều cứ đi nhòm những người đòi ăn của đút hay cáo phát quan lại, lại nhân đó sinh ra rối việc, chợ búa vì đó mà không được yên, rồi dân gian mua bán, sau cũng tùy thời, thuận tình như cũ, lệnh ấy trọn không thi hành được.” (Ibid., 183-4)

Tóm lại, vấn đề tiền tệ là một ung nhọt trầm kha cho Việt Nam suốt trong giai đoạn đó, bắt đầu từ lúc mở các hải cảng cho ngoại quốc buôn bán theo Hiệp ước Thương mãi 1874, và Triều đình Việt Nam chưa tìm được cách giải quyết thích đáng, như TS Nguyẽn Thế Anh đã nói ở trên. Về sau, nhà chức trách Pháp cũng phải tiếp tục thí nghiệm một số giải pháp linh động và uyển chuyển, không khác gì Triều đình Việt Nam. Do Nghị định ngày 6-9-1886, Toàn quyền Paul Bert đã cho phép nhập cảng tiền đồng và tiền kẽm với điều kiện phải đóng thuế 20% trên số tiền nhập khẩu. Rồi chỉ ít lâu sau, lại ra Nghị định ngày 16-10-1886 cấm nhập cảng các loại tiền này. Vài năm sau, Thống sứ Bắc Kỳ Brière ra Nghị định ngày 26-1-1890 cho phép lưu hành tiền đồng của Tàu trong tỉnh Lạng Sơn, với 1 đồng tiền Tàu ăn 3 đồng tiền Việt Nam. Một Nghị định tiếp theo của Thống Sứ Bắc Kỳ Bonnal, ký ngày 3-7-1890 cho phép tiền đồng của Trung quốc được lưu hành như vậy ở tỉnh Hải Ninh. Bài này không có tham vọng đi sâu vào vấn đề tiền tệ phức tạp này. Dù sao, từ đó mà các tác giả Pháp vu khống cho NVT ăn hối lộ của người gian thương Khách để cho phép họ nhập cảng lậu, mà không đưa ra một bằng chứng gì cụ thể cả, thì quả là họ làm nhiệm vụ một nhà tuyên truyền chớ không phải là một nhà khảo cứu viết sử. Việc LM Delvaux tố cáo NVT một cách vô bằng và dễ dàng như vậy không đáng lấy làm lạ, vì chính ngài đã không do dự viết trong ba bài khác nhau, rằng NVT giết vua Kiến Phúc bằng ba cách. Một bài thì nói NVT bóp cổ vua chết; một bài thì nói NVT đầu độc vua chết sau khi tư thông với mẹ nuôi của vua và bị vua hăm giết ba họ; và một bài thì nói NVT giết vua vì lý do chính trị để thủ tiêu Hiệp ước Bảo hộ được ký dưới triều của vua. Hơn nữa, bài khảo luận trong đó chứa đựng tin NVT ăn hối lộ trong vụ tiền đồng này, có thể được xem như là một sưu tập, dài non 100 trang, của một số lớn các sự bịa đặt, xuyên tạc, bóp méo của cả giới thực dân về giai đoạn sử Việt Nam thời thất thủ kinh thành Huế. Đó quả thật là khuôn mẫu điển hình của một bài báo xuyên tạc, mà nhan đề nên đổi lại là “Quelques imprécisions sur une période troublée de l’histoire d’Annam” thay vì “Quelques précisions...” BAVH, sổ 3, 1941, 216-314, (sẽ bàn thêm nhiều trong dịp khác).

7. Nguyễn Văn Tường ăn hối lộ để cho Tàu độc quyền chuyên chở gạo?

Cái nguy hại hơn nữa là sử gia ta về sau này vẫn tiếp tục coi các tài liệu tuyên truyền đó là sử liệu xác thực, không cần phải phối kiểm, gạn lọc gì hết. Mới đây, một sử gia tiến sĩ, nhân viết về NVT, đã kể thêm một chuyện mới nữa, là NVT ăn tiền đút lót để cho người Tàu độc quyền chuyên chở gạo. Sau khi mạt sát Tôn Thất Thuyết và NVT đã chuyên quyền và tranh chấp với nhau, gồm cả việc giết vua Hiệp Hòa, vì vua đã không chịu trả 300 lượng vàng như đã hứa để được lên ngôi, tác giả viết tiếp:

Nguyễn Văn Tường thì sau khi liên kết với người Tàu, trong lúc ông làm Thượng thư bộ Tài chánh, để chiếm độc quyền chuyên chở gạo cho nhà nước, trong những điều kiện rất tốn kém cho quốc gia và rất có lợi cho bản thân ông ta, giờ đây lại nhận hối lộ cũng của những người Tàu đó để cho họ nhập khẩu tiền giả.” (Nguyễn Xuân Thọ, Bước mở đầu của sự thiết lập hệ thống thuộc địa Pháp ở Việt Nam [1858-1897]. Tác giả xuất bản, 1995, 344, NQT nhấn mạnh; xem thêm t. 282-3 về NVT và Chiêu Thương Cuộc)

Vì tác giả không cho biết xuất xứ nguồn tin này, và cũng không cho thêm một chi tiết gì cụ thể hơn ngoài một sự khẳng định khống, tổng quát và độc đoán, như vậy, ta có thể suy đoán là tác giả đã đọc các tin tức này đây đó trong văn khố hay sách vở của người Pháp viết mà không cần phối kiểm với các nguồn tin khác, nhứt là về phía Việt Nam mà tác giả rất ít dùng, vì cho là đã bị De Courcy đốt gần hết cả rồi trong biến cố chiếm kinh đô Huế. (Op. cit., xem trang thứ nhì [không đề số] của phần dẫn nhập) Vậy sau đây là nguyên ủy việc độc quyền chuyên chở gạo của người Trung Hoa, bắt đầu từ mùa xuân năm 1881, theo chính sử nhà Nguyễn:

“Quan cục Chiêu thương nước Thanh là Đường Đình Canh đến kinh, tâu làm giúp việc vận tải. Vua chuẩn cho ban yến ở công đường bộ Lễ và khoản tặng đồ vật. (Nước Thanh năm trước vì phương tiện vận tải hiếm, lại cho là người đi buôn vận tải hàng hóa, lợi về thuyền của người tây. Bèn đặt ra cục Chiêu thương, bỏ bạc công ra 100 vạn đồng và cho quan dân xuất tiền góp vốn đóng tàu thủy để chở lương công, và đáp hàng hóa tư nhân đó để diễn tập đường biển. Hàng năm tính lãi, chiếu số tiền gốc chia tiền lãi đều nhau. Tuy nói rõ là làm việc tải gạo công, thực ra là ngầm chia lợi quyền của người tây. Đến nay, thuyền ở cục ấy ngày càng nhiều, tải việc công đã thừa, cho nên chia đi các nước tải tư lấy lợi. Đình Canh người tỉnh Quảng Đông, là quan tam phẩm, dự làm việc ở cục ấy, lần này được khâm sai thự lý thông thương đại thần là Lý Hồng Chương [hiện là tổng đốc Trực Lệ, đóng ở Thiên Tân] phái ủy đi, và mang thư đưa đến cửa tổng đốc Lưỡng Quảng là Trương Thụ Thanh từ Hương Cảng đến Hải Dương, đáp thuyền buôn đi suốt đến cửa Thuận An. Vua sai bọn Nguyễn Văn Thúy, Trần Thúc Nhận đón tiếp. Đình Canh nói rõ cục Chiêu Thương để tải giúp và tỏ bày cái ý muốn cùng nước ta cùng mưu giàu mạnh. Vua sai quan viện Cơ mật và Thương bạc cùng bàn định chương trình, [đại khái mỗi năm vận tải 42 vạn, tháng giêng bắt đầu tải, đến tháng 7 thì xong. Từ Hải phòng đến Thuận An, mỗi 100 phương giá cước là 140 quan. Thiếu hay mất đều phải đền. Nhưng ở Hải phòng và cửa Thuận, cục ấy đều đặt kho phái người ở đấy làm việc] . . .” ) (ĐNTL, XXXV, 20-1, NQT nhấn mạnh).

Vài tháng sau có nghị định ấn định thủ tục chi tiết chặt chẽ để áp dụng trong công tác tiếp tế gạo này, đề cử viên chức tiếp nhận gạo, xây thêm kho chứa, qui định các chế tài khi có chậm trễ, hay mất mát, để Chiêu Thương cục bắt đầu công tác vào đầu năm tới, 1882. (Ibid., 54-5) Vì nạn giặc biển hoành hành, cơ quan hàng hải này, với thủy thủ trang bị khí giới đầy đủ, đã có thể bảo đảm việc tiếp tế gạo cho miền thủ đô một cách an toàn hơn. Trong thực tế, cục này còn là một đường giây liên lạc ngầm giữa hai chính phủ Trung Hoa và Việt Nam trong công cuộc chống Pháp. Nó cũng là một cơ quan tình báo của Triều đình Trung quốc để theo dõi hành động của Pháp ở vùng thủ đô Việt. (Fourniau, Vietnam, op. cit., 299-230) Đại diện Pháp tại Huế Rheinart biết khá rõ về Công ty thương mãi này của Tàu, và kể chuyện rằng người đại diện của Công Ty, có văn phòng ở Thuận An đã tìm cách gặp y hai, ba lần để trao đổi quan điểm về vấn đề tranh chấp Pháp - Hoa ở Bắc Kỳ. Nhân dịp này, Rheinart ghi trong sổ tay ngày 9-10-1882 rằng, qua Chiêu Thương Cuộc, chắc chắn nhà chức trách Trung quốc:

“đeo đuổi một mục đích song hành: dành một khu vực trung lập đại loại, dùng để che phủ khu biên giới, nhưng nhứt là để loại nền thương mãi Âu châu ra khỏi khu phụ cận Vân Nam, hầu giữ sự độc quyền thương mãi cho Công ty này, và về một mặt khác, nắm lấy các hầm mỏ mà chúng ta có vẻ đang sẵn sàng muốn khai thác . . .” M. Rheinart.. . BAVH, Ibid., 122)

Ngoài ra, Chiêu Thương Cục cũng có thể là một văn phòng liên lạc thường trực trá hình, và thường xuyên cung cấp tin tức chính trị, báo chí, tài liệu từ Hồng Kông về cho Triều đình. Vào khoản đầu năm 1882,

“. . . Đình Canh đến phủ Hải Ninh, bèn đáp thuyền về kinh. . . . [ ] Đình Canh đưa một bức thư của tổng đốc Quảng Đông giao cho quan Thương bạc tiến trình, [thư ấy đại khái nói: việc vận tải lương bắt đầu làm trước, nên cho đạo viên ấy đi đến kinh lý, và có việc quan yếu phải bàn thì cho đạo viên ấy trình bày tại trước mặt], nhân thể xin vào yết kiến vua. [ ] Vua cho là quan nước Thanh vào yết kiến, sợ sinh ngờ. Bèn cho Nguyễn Văn Tường bàn kín với Đình Canh. [ ] Đình Canh nói: tháng 10 năm nay, khâm sai nước Thanh đóng ở nước Anh là Tăng Kỷ Trạch báo tin rằng: nghị viện nước Pháp bàn kín, Bắc Kỳ nước ta đất cát màu mỡ, núi sông lại có nhiều mỏ vàng, bạc, đồng, sắt, than đá, xét ra tình thể, chỉ giở bàn tay là xong. Lãnh sự nước Pháp là Thoát Lãng lại đã xin đem 1, 2 nghìn quân đánh lấy Bắc Kỳ. Nghị viện nước Pháp đã chuẩn y. Chẳng bao lâu tất đem quân nước ấy cùng các đạo quân ở Tây Cống khẩn cấp cùng phái đi. Còn nói là đuổi Lưu Vĩnh Phúc chỉ là nói thác ra mà thôi. Vua nước Thanh giao cho các nha môn quân cơ bàn cho thỏa đáng, cho nên tổng đốc tỉnh ấy phái đạo viên ấy báo tin cho nước ta, phải mưu tính ngay để mong giữ được. [ ] Vua cho là thư của tổng đốc ấy hồn nhiên, ta cũng không nên lộ. Sai Văn Tường mật dặn Đình Canh ba việc: 1. . . . cho nước ta đặt quan . . . ở kinh đô nước Thanh, nếu có việc gì [Pháp áp bức, NQT ct.] được tố cáo với tổng lý nha môn. [ ] 2. . . . cho nước ta đặt 1 lãnh sự ở đây [Quảng Đông] để . . . thông báo tin tức, nhân cùng giao du với các nước để thông hiểu tình ý. [ ] 3. [Giúp, NQT ct.] nước ta . . . phái người đi khắp các nước . . . xem xét và học . . . Đến khi Đình Canh về, vua sai viết thư trả lời tổng đốc Quảng Đông . . . và cho thự lý thông thương khâm sai đại thần Lý Hồng Chương. . .” (ĐNTL, Ibid., 89-91, NQT nhấn mạnh).

Về cuộc tiếp xúc này, Rheinart đã kể trong một bức thơ gởi Henri Rivière rằng:

“Chính ông Thượng thư bộ Hộ [NVT], kẻ thù quyết liệt nhất của chúng ta, đã thương thuyết với họ; để tránh dùng kẻ trung gian, các người đối thoại dùng lối bút đàm bằng chữ nho. Có tin là người ta đã yêu cầu những sự viện trợ tích cực chống lại chúng ta, để tống khứ chúng ta ra khỏi Hà Nội và Ninh Hải, nhưng hình như người ta chỉ nhận được những câu trả lời mơ hồ mà thôi. . .” (CAOM, GGI, Etat Major, Cabinet Militaire, Archives historiques, 1883, số 9, 2-2-1885)

Quả nhiên, một, hai tháng sau, vào tháng 4, Đại Tá Henri Riviềre đem tàu và quân đội ra Bắc xâm chiếm Hà Nội, Hòn Gay, và Nam Định, lấy cớ là để đề phòng giặc Cờ Đen của họ Lưu. Mật vụ Pháp đã nghi ngờ và theo dõi các cuộc tiếp xúc bán chính thức này, cũng như vai trò trung gian của cục Chiêu Thương với tên Anh ngữ là “China Merchant Steamship Navigation Cy”, mà họ cho là một phần lớn thuộc quyền sở hữu của Lý Hồng Chương, Tổng lý Nha môn của Hoàng Đế Trung Quốc. (Fourniau, Vietnam, op. cit., 299-300). Silvestre, phụ tá chính trị và dân sự vụ của tướng tổng chỉ huy ở Hà Nội, đã đánh giá vai trò của Chiêu Thương Cuộc như sau:

“. . . chính là qua sự trung gian của công ty này mà Tường đã thỉnh cầu sự viện trợ của Trung quốc sau khi thành Hà Nội bị chiếm . . . nhân viên công ty này, khi đến Huế, làm ra vẻ như là đại sứ, và đóng góp không ít vào việc phao đồn tin nước Tàu sẽ can thiệp chống lại chúng ta. Dù sao, Phạm-Thận-Duật, thượng thư bộ Hình, đã từng đi Quảng Đông trên một chiếc tàu của công ty này, . . . và hơn nữa, có lúc sáu chiếc tàu của công ty đã cả gan xuất hiện trong lãnh hải Bắc Kỳ, với ý đồ làm cho dân chúng tin tưởng rằng nước Tàu đã quyết tâm đóng một vai trò tích cực trong cuộc chiến, và, vì vậy, dân chúng không nên trễ nãi trong việc nổi dậy đồng loạt.” (Silvestre, Politique francaise dans l’Indochine Annam. Extraits des Annales de l’Ecole des sciences politiques [du 15 juillet 1895 au 15 janvier 1898] Phần VIII, t. 164, NQT nhấn mạnh)

Biết mà không ngăn cản được, phe thực dân tìm cách bóp méo các liên lạc ngoại giao phi chính thức giữa NVT với cục này thành một sự ăn hối lộ để cho độc quyền chuyên chở gạo, mà không đưa ra được một bằng chứng gì cụ thể được cả, ngoài sự phao dựng vu khống ra mà thôi. Mặc dù vậy, chiến dịch tuyên truyền của nền sử học thực dân về dài vẫn còn hiệu nghiệm một cách ghê gớm. Mới đây, năm 2002, một sử gia Pháp khảo cứu đúng qui tắc, vô tư, và khách quan cũng không gạn lọc hết được những tin tức xuyên tạc đó. Ông viết [và chỗ này, trái với thông lệ trong sách, ông không nói dựa vào nguồn tin nào] rằng NVT khi làm Thượng thư bộ Hộ “đã bị chỉ trích dữ dội, nhứt là về việc ông cho đúc tiền đồng quá nhẹ đến nỗi, theo lời thiên hạ đồn, nó có thể nổi trên mặt nước.” (Fourniau, Vietnam, op. cit.., 279) và “hình như là ông ta không được dân chúng thương mến chút nào, vì người ta tố giác những sự hà lạm của ông lúc làm thượng thơ bộ Hộ.” (op. cit., 369)

Thay lời kết luận: Nguyễn Văn Tường và nền hành chánh Khổng Mạnh

Nhân vị phủ doãn Thừa Thiên, mà NVT thay thế, bị cách chức vì bị dân kiện về tội hà lạm, sử sách thực dân lại cố tình gán tội ấy cho NVT để hạ uy tín của một vị quan ái quốc chống Pháp. Bàn về việc NVT xây cất thành Tân Sở làm kinh đô kháng chiến cho nhà Nguyễn, sử thực dân cho rằng NVT làm việc đó chỉ để loại vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết rồi đưa con mình lên ngôi. Muốn loại NVT ra khỏi chính quyền, phe thực dân đã vu cáo ông đã không thi hành hiệp ước đã ký, lấn quyền vua, bưng bít không cho vua gặp sứ Pháp. Muốn dành độc quyền khai thác hầm mỏ, người thực dân vu cáo NVT ăn hối lộ của nhà buôn Tàu để cho họ lãnh trưng mỏ than. Người thực dân vừa một mặt, lũng đoạn nền tiền tệ Việt Nam bằng cách che chở, khuyến khích việc buôn lậu tiền giả, xấu, một mặt vu cáo NVT ăn hối lộ để cho nhập khẩu, và đúc loại tiền đó. Hai chính quyền Trung Quốc và Đại Nam dùng Chiêu Thương Cuộc để bảo đảm việc tiếp tế gạo cho miền thủ đô, và tiện liên lạc với nhau, thì phe thực dân rao ra rằng NVT ăn của lót để cho hãng buôn này độc quyền chuyên chở gạo. Những tin tức xuyên tạc, do sử sách thực dân tung ra để tuyên truyền, được sử gia về sau chấp nhận như là chính xác không cần gạn lọc, phối kiểm, làm sai lạc, đảo ngược cả lịch sử Việt Nam thời này. Cái nguy hại to lớn nhất là sử thực dân đã làm cho ba, bốn thế hệ người Việt Nam mất niềm kiêu hãnh đối với quá khứ của dân tộc, và khinh miệt tiền nhân của mình.

Trong lúc sử sách thực dân nắm độc quyền dư luận trong gần một thế kỷ, thì bộ sử quan trọng bậc nhất của Việt Nam, là bộ Đại Nam Thực Lục, chính sử của Triều Nguyễn, mãi cho đến gần đây, sau 1978, mới được bắt đầu được phổ biến bằng chữ quốc ngữ la tinh hóa. Mặc dầu được soạn dưới thời Pháp thuộc và không khỏi bị méo mó bởi áp lực chính trị, và lẽ dĩ nhiên không thể có thiện cảm với hai ông Tường và Thuyết, bộ sử vẫn phần nào giữ được tính cách trung thực, nhờ ở truyền thống viết sử của Đông phương, và cách viết theo lối biên niên, nhật ký và nhấn mạnh vào sự kiện. Bộ sử không hề tố cáo NVT ở một chỗ nào về những việc mà sử thực dân đã nói ở trên. Nhờ bộ sử, mọi vu cáo của phe thực dân đối với NVT đã được đính chính. Nhân đọc bộ sử, người viết không khỏi ngạc nhiên và khâm phục trước sự liêm chính và thành hiệu của nền hành chánh Khổng Mạnh của Việt Nam trước thời Pháp thuộc; và xin khẳng định rằng về nhiều phương diện, nó hơn hẳn và hơn nhiều, nền hành chánh Bảo hộ và Nam Triều dưới thời Pháp thuộc, và ngay cả các nền hành chánh về sau. Nó cũng không thua kém các nền hành chánh Âu Mỹ một chút nào về phương diện liêm khiết và thành hiệu. Thật vậy, nền hành chánh Khổng Mạnh, được hình thành do sự tích lũy của những kinh nghiệm thành công hay thất bại của quá khứ, bao gồm một hệ thống chế tài tuyệt hảo để thúc đẩy thành phần nhân sự thi hành nhiệm vụ được giao phó. Về phương diện chế tài tích cực, một định chế tưởng thưởng dựa thuần vào thành quả đạt được do tài năng và đức độ, khuyến khích mọi người cố gắng vượt bực để giải quyết các vấn đề khó khăn và phức tạp của quốc gia. Mọi sự thăng quan tiến chức đều dựa vào thành tích, công trạng đã được chứng minh rõ rệt. Về phương diện chế tài tiêu cực, việc ngăn ngừa và trừng trị tội phạm được giao cho một hệ thống tư pháp hoàn bị, trên đầu có ba cơ quan là Đô Sát Viện, Đại Lý Tự, và bộ Hình, họp lại thành Tam Pháp. Nếu có tội phạm xảy ra, mà viên chức các cơ quan này không truy tố thì họ cũng bị tội, hoặc biết mà che giấu, hoặc không biết vì khiếm khuyết trong sự thi hành nhiệm vụ, đều bị tội. Ngoài ra, viên chức các cấp đều có bổn phận tố cáo mọi tội phạm xảy ra do cấp dưới, ngang, hoặc trên mình phạm phải. Nếu biết mà không ngăn ngừa hay tố cáo là bị tội. Cáo gian để ám hại người khác cũng bị tội. Nếu vua phạm tội, các quan bất kỳ lớn nhỏ, đều có quyền và bổn phận tố cáo. Nếu biết mà không làm, các quan cũng bị tội. Dân cũng có quyền khiếu nại tố cáo quan lại thẳng lên vua, bằng cách đánh trống đặt trước hoàng thành. Như vậy mọi người được khuyến khích và kiểm soát lẫn nhau, để cư xử theo khuôn khổ đạo đức chính trị đã định. Đó không phải là câu chuyện chỉ có trong lý thuyết, mà đã xảy ra thông thường trong nền hành chánh thời đó. Sự hay dở của một chế độ như vậy tùy thuộc phần lớn vào vai trò gương mẫu của chủ thể nắm quyền hạn và bổn phận tối thượng, tức là vị vua. Một khi vua hành xử đúng đắn vai trò của mình, tự nguyện ghép mình vào kỷ luật đạo đức, và chấp nhận sự phê bình, chỉ trích của quan lại để sửa sai, thì sự tham nhũng, hối lộ, hà lạm của các quan lại khó lòng mà không bị đưa ra ánh sáng và trừng phạt được.

Vua Tự Đức đã từng bị các quan công khai chỉ trích rất nhiều lần, như chính sử đã ghi. Như việc vua đi săn bắn nhiều, chẳng hạn, các quan như Trần Tiễn Thành, NVT, Hoàng Kế Viêm thường can ngăn, và vua đã luôn luôn công nhận lỗi của mình và giải thích lý do là “bị bệnh uất không vui đã lâu, chỉ có cách tiêu khiển như thế mới làm được việc.” (ĐNTL, XXXII, 25-6, e. g., và ĐNTL, passim ) Trong một bản sớ năm 1868, ông Thân Văn Nhiếp, Tuần vũ hộ lý Tổng Đốc Bình Phú đã thẳng thắn trách vua Tự Đức rằng:

“. . . sự yên, nguy, còn, mất khác nhau chỉ ở chỗ vua một lòng kính cẩn hay là phóng túng mà thôi, kính thấy sự thế ngày nay là lúc thế nào? Đất cũ bị mất, giặc phương bắc tràn lan; lụt, hạn, nạn bão, cáo cấp khắp nơi; của hết, sức kiệt, dân không được nhờ để sống, lòng người ở nơi gần kinh kỳ náo động, các nơi làm loạn, cái thế yên nguy thực không chỉ trăm mối lo mà thôi, thế mà gần đây việc xây dựng, sửa sang liên tiếp, xa xỉ bừa bãi không ngớt, làm Vạn niên cơ, so với lăng Thiên thu chẳng những gấp 10 lần, này như ngói nung già mua ở Hạ Châu, giày trò chơi mua ở nước Thanh. Sa tanh, tủ rượu, hàng năm phái đi mua nhiều, đàn tây, tranh tây, hàng năm có đơn mua hàng; lại còn đi chơi thường đem cung nữ đi chèo thuyền, đó là những việc từ trước chưa từng có, mà khoảng bốn, năm năm nay thấy luôn. Lại nay lầu ở trong cung vừa mới xong, lầu ở bãi sông tiếp tục xây dựng; đương lúc hạn hán gạo đắt này tốn phí chẳng ít, xưa vua Văn đế nhà Hán tiếc 100 lạng vàng không làm đài [Thừa] lộ, nói rằng: ‘Ta được hưởng cung thất của tiên đế, thường sợ xấu hổ, làm đài làm gì?’ Hoàng thượng ngày thường muốn mong được như vua Văn đế, thế mà việc làm ngày nay lại rất trái ngược: lấy nhọc khổ người làm thích, lấy làm việc tốn tiền làm vui, cốt hơn phép trước mà khoe đẹp về sau, muốn chơi xem nhiều như thế để hưởng hết tuổi trời, chớ bảo là có tổn thương, tai hại gì đâu mà không biết lòng ấy đã hóa ra là phiền họa dao động, lòng người ta oán, đường sá xôn xao, hầu không thể cứu được, tôi sợ lòng người tan rã, đến lúc đó dù có gác cao, lầu đẹp, còn thì giờ đâu mà du ngoạn được. Hoàng thượng có nước mà chẳng biết tiếc, tôi đâu dám tiếc chết, tôi đã nhiều lần tâu nói, chưa được sửa đổi, nay lại xúc phạm những điều kiêng kỵ, xin chịu tội chết với ở quan bộ Hình, để xứng đáng với cái tội không biết đem lòng thành làm cảm động [vua].”õ (ĐNTL, XXXI, 244-5)

Vua Tự Đức đã trả lời ông Thân Văn Nhiếp như sau:

“Những điều ngươi thiết trách, đều là lỗi của ta, nhưng có cái ngươi chưa hiểu, còn câu nệ ở dấu trước, thì người làm vua nhất thiết đều phải câu thúc, không được chơi, thưởng chút nào, cử động làm gì là chuốc lấy tội lỗi. Ta nay bận, bệnh nhiều, đã không lòng sức, không dám viện dẫn xa để phân trần, cũng không dám nói gì, chỉ một lòng uất khổ quá lắm mà thôi, chỉ mong ở trên là thần minh, dưới là người xét mà tha thứ cho, nếu bó buộc phiền toái quá thì thân này không chịu nổi, còn sức đâu mà có thể cùng nhau làm việc, đậy nắp quan tài thì tâm tích người hay người dở tự khắc định được, đâu đợi phải nói, nhưng kẻ làm tôi thường cần phải nói, để vua nghe biết điều lỗi mới phải, riêng lòng ta tự có nắm vững, không dám sai trái, chỉ có quỉ thần biết thôi, sự học ngày thường để làm gì, hầu dối ai?” (Ibid., 245-6)

Không những không giận hờn, vua Tự Đức lại càng kính trọng và vị nể ông Thân Văn Nhiếp hơn. Ba năm sau, 1871 ông Nhiếp, lúc đó đã được thăng thụ chức Tổng đốc Bình Phú, bị một viên chức dưới quyền ở địa phương là ông Trần Văn Điển, Thương biện hải phòng ở Bình Định, tâu lên đàn hặc về 11 “khoản làm không hợp,” bao gồm việc làm “không công bằng,” “không đúng phép,” “hà khắc quấy nhiễu,” và “che chở tư vị.” Bộ Lại ngâm việc cả hơn một tháng không trình lên. Đến khi Tổng đốc Nhiếp về tâu xin vào hầu vua để biện bạch, thì bộ Lại mới tâu lên, và quan khoa đạo mới hặc tội. Bộ Hình thì xin cách chức ông Nhiếp để đợi xét, nhưng Vua không cho và sai Thượng thư bộ Công là Nguyễn Bỉnh cùng với quan khoa đạo vào Bình Định hội đồng để xét; và cho Tổng đốc Nhiếp cùng với bố chính và án sát Bình Định là Lê Kiên và Phan Tuấn đều được về kinh tâu rõ. Vua giáng phạt các quan lớn ở bộ Lại về tội “bênh nhau che giấu,” vì đã để lâu không tâu trình nội vụ: Thượng thư Nguyễn Tri Phương bị cách hàm Thái bảo và giáng làm hiệp biện đại học sĩ, vẫn làm thượng thư; Tham Tri Lê Lượng Bạt giáng xuống hàm thị độc học sĩ, đổi qua Quốc sử quán; và Tả Thị lang Nguyễn Lâm giáng làm viên ngoại lang. Đến khi bản án dâng lên năm sau, ông Nhiếp bị giáng ba cấp và đổi đi nơi khác chỉ vì một tội mà thôi, là che chở cho các thuộc viên, là Doanh điền sứ Đặng Duy Hanh, quyền Tri huyện Trần Tri, quyền Tri phủ Nguyễn Bá Khanh, và Hiệp quản Nguyễn Như về tội, hoặc hà lạm, sách nhiễu, hoặc khiếm khuyết trong nhiệm vụ giữ an ninh. (ĐNTL, XXXII, 129, 239) Khi bản án được tuyên, ông Nhiếp đang bị bệnh nặng, lưu lại tỉnh để chữa, rồi mất. Vua Tự Đức

“nghĩ Nhiếp là người cương trực, giỏi giang, quen việc, vốn được tiếng là có công khó nhọc, bị can cũng không phải là tham tang hối lộ. Gia ơn tha cho không phải đổi đi, được truy khai phục hàm cũ.” (ĐNTL, XXXII, 248)

Những trường hợp tương tự như những ví dụ vừa kể, trong đó vua quan hổ tương kiểm soát lẫn nhau để gìn giữ chính nghĩa của triều đại, không phải là biệt lệ mà là thông lệ dưới Triều Tự Đức, Kiến Phúc, và Hàm Nghi. Trong một chế độ mà vua quan đồng lòng nỗ lực thực hiện cái lý tưởng cao quí vì dân, vì nước như vậy, thì làm sao mà có thể có những câu chuyện NVT tham lam như người thực dân đã cố tình ngụy tạo ra? Nếu NVT có tham lam, thì là tham lam để thực hiện cái nhiệm vụ của một kẻ sĩ Đông phương. Đó là cái nhiệm vụ phò vua, giữ nước, giúp dân, quên cả thân mình, cho đến khi trút hơi thở cuối cùng nơi lưu đày, trên một hòn đảo xa xôi ở Thái bình dương!

Bài này là một thành phần của cuốn sách tác giả đang soạn về nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường. Mọi sử dụng, bất kỳ dưới hình thức nào, cần sự đồng ý của ông Nguyễn Quốc Trị.


Copyright © 2002 - 2008 by Nguoi Viet, Inc.
Nguoi-viet Online
http://www.nguoi-viet.com/