Bản sao để LƯU (ngày 15-5 HB9 [2009])

 

Bài 1

Nguyễn Văn Tường

và sách lược chống Pháp dưới Triều Nguyễn
Nguyễn Quốc Trị

 

4 BÀI VIẾT CỦA ÔNG NGUYỄN QUỐC TRỊ

 

Tạp chí điện tử Giao Điểm (giaodiem com), tháng 5 năm 2005:

Bốn bài viết của ông Nguyễn Quốc Trị (Hoa Kỳ) trên mạng liên thông toàn cầu “thahuong net” (Google, Yahoo. MSN search):

 

Bài 1:

http://members.cox.net/luanlac/vanhoa/nvt&slcp.htm

Nguyễn Văn Tường và sách lược chống Pháp dưới Triều Nguyễn

 

Bài 2:

http://members.cox.net/luanlac/vanhoa/nvt&hpkp.htm

Nguyễn Văn Tường có tư thông với bà Học Phi và giết vua Kiến Phúc không?

 

Bài 3:

http://members.cox.net/hoaihuong/vanhoa/nvtthl.htm

Nguyễn Văn Tường tham lam?

 

Bài 4:

http://members.cox.net/hoaihuong/vanhoa/nvttnh.htm

Nguyễn Văn Tường tàn nhẫn?

__________________________________

Vài lời của Trần Xuân An: Nếu cứ liệt kê, phân tích và cải chính tất cả những ǵ kẻ thù của Nguyễn Văn Tường bôi nhọ, xuyên tạc, đơm đặt về ông và từ những người cố ư hay vô t́nh phụ họa, lặp lại luận điệu bôi nhọ, xuyên tạc, đơm đặt ấy, như ông Nguyễn Quốc Trị đă thực hiện một cách khá đậm đặc trong 3 bài viết 2, 3 & 4 dưới đây, hoặc sử dụng tư liệu đă được chứng minh là giả mạo (thư gửi thống đốc Tahiti chẳng hạn), như trong bài viết 1 (cũng ở chùm bài kể trên) th́ hóa ra là mắc mưu chúng, vô h́nh trung tiếp tay cho chúng. Chúng sẽ càng được thể mà bôi nhọ, xuyên tạc, đơm đặt về những nhân vật lịch sử khác.

______________________________

Bài 1

 

 

Nguyễn Văn Tường và sách lược chống Pháp dưới Triều Nguyễn
Nguyễn Quốc Trị

 

LTS: Tác giả là nguyên Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh, Sài g̣n. Ông có khảo cứu về vấn đề phát triển các quốc gia chậm tiến, và sáng tác cuốn Third World Development: Aspects of Political Legitimacy and Viability. Associated University Presses, 1989; 2010 Eastpark Blvd, Cranbury, NJ 08512; ĐT (609) 655-4770; Fax (609) 655-8366; là một tác phẩm được báo chí quốc tế ở Nữu ước, Luân đôn, và Ba-lê khen ngợi.


Tác giả giữ BẢN QUYỀN. Bài này là một thành phần của cuốn sách tác giả đang soạn về nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường. Mọi sử dụng, bất kỳ dưới h́nh thức nào, cần sự đồng ư của ông Nguyễn Quốc Trị.

Bài này sẽ chứng minh rằng vào hậu bán thế kỷ thứ 19, triều Nguyễn đă có một kế hoạch chống Pháp dài hạn và có đường lối mach lạc, để đối phó với sức mạnh của vũ khí và kỷ thuật quân sự Tây Phương; và nhân vật lịch sử đă cùng vua Tự Đức soạn thảo và áp dụng kế hoạch đó là Nguyễn Văn Tường (NVT), người mà các sử gia thường gọi là cố vấn thân tín của nhà vua. (Devillers, Philippe, Francás et Annamites, partenaires ou ennemis? 1856-1902, Destins Croisés, 1998, 257; Nguyễn Xuân Thọ, Bước mở đầu của sự thiết lập hệ thống thuộc địa Pháp ở Việt Nam [1858-1897], 1994, 299) Kế hoạch đó đă được NVT tŕnh lên vua Tự Đức sau khi đi sứ ở Nam Kỳ vào năm 1868 như sau: khi lực lượng giữa ta và địch tương đương hay xấp xỉ với nhau th́ có thể áp dụng chiến lược thông thường là 'chiến rồi sau mới thủ được, thủ rồi sau mới có thể ḥa được'. Nay t́nh thế đă muôn vàn khó khăn v́ lực lượng của địch hơn ta quá nhiều, th́ phải dùng 'ḥa để thủ, thủ để mưu chiến mới hợp cơ nghi, mà may mắn mới không sai lầm'. Trong khung khổ sách lược tổng quát đó, việc chống Pháp, theo NVT, cũng giống như chống rợ, Hung Nô, Khiết Đan, hồi xưa, 'không có thượng sách, chỉ châm chước theo thời thế mà thôi... cho nên giao hảo...phải chầm chậm nhẫn nhịn chấp nhận, lời lẽ nhỏ nhẹ, lễ vật nhiều ...'. (Bản tấu ngày 8-3 Tự Đức 21, 1868, NQT nhấn mạnh) Kế hoạch này đă giúp nhà Nguyễn giữ được chủ quyền quốc gia một thời gian khá lâu trước khi đất nước rơi vào ṿng nô lệ.

I. Nguyễn Văn Tường và kế sách chống Pháp dưới Triều Tự Đức

NVT đă tŕnh vua Tự Đức kế hoạch này sau khi Pháp chiếm thêm 3 tỉnh miền Tây Nam kỳ, bất chấp Hiệp Ước Ḥa B́nh kư kết vào năm 1862, và Phan Thanh Giản đă tự tử v́ không giữ được thành trước sức mạnh vũ băo của quân đội Pháp. Trước đó, Pháp đă chiếm 3 tỉnh miền Đông, rồi phong tỏa các cửa biển không cho chở gạo từ miền Nam ra Trung Bắc, và dùng vụ loạn Lê Văn Phụng ở đất Bắc đương đe dọa sự tồn vong của chế đô, để ép buộc triều đ́nh phải kư Hiệp ước 5-6-1862 chính thức nh́n nhận việc nhường đứt 3 tỉnh ấy cho Pháp. Dân chúng hết sức bất măn với triều đ́nh, tự động tổ chức t́nh nguyện quân đánh phá phần đất bị Pháp chiếm, và âm mưu chống lại cả vua và triều đ́nh. Trước t́nh h́nh sôi sục đó, nhà vua xử tội Phan Thanh Giản đă làm mất thành, mặc dầu ông đă quyên sinh, và t́m cách gởi sứ đoàn sang Pháp để xin chuộc lại các tỉnh đă mất. (Fourniau, Charles, Vietnam, Domination coloniale et résistance nationale, 1858-1914 . Paris, Indes savantes, 2002, 91-185) Chính trong lúc này, vua Tự Đức đă gọi NVT đang làm bang biện ở huyện Thành Hóa, Quảng Trị về sung vào phái bô Trần Tiễn Thành để vô Nam nghiên cứu t́nh h́nh và đề nghị giải pháp đối phó. (Đại Nam Thực Lục Chính Biên [ĐNTL], Tập XXXI, Nhà Xuất bản Khoa học Xă hội Hà nội,1962-1978, 184)

Nhân dịp này, NVT đă đề nghị kế hoạch nói trên, một việc đă đ̣i hỏi rất nhiều can đảm ở một viên chức c̣n ở địa vị thấp kém như NVT. Thật vậy, chiến lược 'ḥa để mưu chiến' đi ngược lại ư muốn của vua là dồn sức lực vào việc gởi sứ đoàn đi chuộc đất, trong lúc NVT th́ lại xin vua nên đặt nhẹ ư tưởng chuộc đất mà đặt trọng tâm vào việc 'tự cường' để giữ phần đất c̣n lại. NVT cũng thẳng thắn tŕnh bày rằng việc mất đồn mất đất là ngoài ư muốn của các quan ta như Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp, mà là do ở việc địch quá mạnh với vũ khí tối tân, và ta thua quá rơ. Hơn nữa, NVT cũng không ngại tâu vua đừng nên tin quá nhiều vào hiệp ước kư kết, v́

'Thề ước mà giữ trung tín th́ rất mỏng manh. Cho nên càng họp th́ càng nghi, nhiều lần thề th́ nhiều lần phản bội...Th́ chuyện Câu Tiễn thành công đối với Ngô ... sao lại thường chấp vào cái thành thực nhỏ bé ...'.

Từ đó, vua Tự Đức đă dần dần lưu ư nhiều hơn đến việc chấn chỉnh nội bộ, mở mang các sơn pḥng, với hậu ư chuẩn bị một cuộc kháng chiến lâu dài. Trước đó vua đă có ư dùng sơn pḥng vùng Tân Sở làm một kinh đô thứ hai, ủy cho NVT phụ trách và cấp cho NVT ấn ‘khâm phái quan pḥng’ để tâu bày mọi việc cần thiết trực tiếp lên vua. (ĐNTL, XXXI, 86-7) Trong 8 năm làm tri huyện và bang biện Thành Hóa, tức Cam Lộ ngày nay, NVT đă phát triển vùng hoang địa này thành một nơi trù phú, và chiêu dụ nhiều dân thiểu số về thần phục triều đ́nh. (ĐNTL, XXVIII, 217, 271, 315, 321; XXIX, 48 )

Vua đă nhận thấy tài năng của NVT trong việc khai khẩn đất hoang, giữ đất, đề pḥng biên giới, và thăng bổ ông lên Phũ Doăn vào 1864 để giải quyết vấn đề tranh chấp lương đạo trầm trọng ở đây. (ĐNTL, XXX, 98; Trần Huy Thanh, "Nguyễn Văn Tường trong thời gian làm phủ doăn Thừa thiên ", Hội thảo Khoa học Nhân vật Lịch sử Nguyễn Văn Tường, Huế 2/7/2002, Trung tâm Khoa học Xă hội và Nhân văn Huế - Đại học Huế & Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Thừa thiên Huế [gọi tắt là HTNVTHUE02], 84-91). Đến năm 1866, v́ nạn giặc Chày Vôi xảy ra trong địa hạt Thừa Thiên của ông, NVT bị giáng chức về làm bang biện ở huyên Thành Hóa, nơi mà ông đă từng làm tri huyện. Nhưng NVT vẫn kiêm sung nhiệm vụ khuyến nông sứ và doanh điền sứ vùng Thừa Thiên Quảng Tri, và được quyền tâu bày trực tiếp lên vua. (ĐNTL, XXXI, 87)

Sau khi ở Gia Định về, ông được cử ra Bắc dẹp loạn với tư cách Tán Tương quân vụ. (ĐNTL, XXXI, 238) Ở đây ông đă hợp tác chặt chẽ với các ông Đỗ Thọ, Vơ Trọng B́nh, Hoàng Kế Viêm, Ông Ích Khiêm, Phạm Thận Duật, v. v. lúc th́ ở bô Tham Mưu, lúc cầm hàng ngàn quân đánh giặc thật sự. Vua Tự Đức nhận thấy tài năng ngoại giao đối đáp, giao thiệp của NVT nên cử ông thường xuyên qua lại thương thuyết với các quan tướng nhà Thanh, như đề đốc Phùng Tử Tài để phối hợp việc đánh dẹp giặc cướp, và vỗ về dân chúng. Ông đă chiến đấu, vào sinh ra tử, trên khắp nẽo đường của vùng thượng du và biên giới Hoa Việt. (ĐNTL, XXXI, 287, 316, 325, 327, 330, 357, 371; ĐNTL, XXXII, 11, 30, 31, 46, 61, 70, 71, 81,101, 105, 157, 177, 185, 189, 225) Gần cuối 1873, NVT được vua triệu về kinh để cùng khâm sai Lê Tuấn vào Gia Định và đi sang Pháp thương thuyết ḥa ước với Pháp. (ĐNTL, XXXII, 293)

A. Giải trừ âm mưu của Dupré, Dupuis và Garnier

Nhân khi đó, người lái buôn Pháp Jean Dupuis đem một đoàn tàu tới phá rối Bắc Kỳ, dùng sông Hồng Hà để chở khí giới cho các quan chức Tàu ở Vân Nam. (ĐNTL, XXXII, 253-4) Mặc dầu Dupuis hết sức ngang ngược, vua, theo kế hoạch của NVT, vẫn chỉ thị cho các quan địa phương cố hết sức giữ ôn ḥa, nhường nhịn với Dupuis hầu tránh mọi sự gây hấn với y trong lúc triều đ́nh yêu cầu Thống đốc Nam kỳ và các quan Tàu ở Lưỡng Quảng can thiệp giải quyết. Thật vậy, chính sử kể rằng sau khi ngăn cấm Dupuis từ Hà Nội đi Vân Nam không hiệu quả, Tổng đốc Bùi Ân Niên tâu lên th́

"Vua dụ cho các quan tỉnh và các quan quân thứ từ Hà Nội trở lên, chờ cơ châm chước đối phó, không hướng dẫn không tiếp, chúng đến đâu tự biết là khó đi, th́ tự phải rút lui. Chỗ nào chỗ ấy đều có chức phận, phải theo thể thống mà khu xử cho khéo để được thỏa đáng. Nhưng khi chúng đến đâu, làm việc ǵ, phải phi báo ngay để tiện xử trí, chớ có tự ḿnh gây hấn trước, chớ để cho thất thế là được rồi.'' (ĐNTL, XXXII, 255)

Dupuis, v́ đă có ăn ư ngầm với nhà chức trách Pháp ở Sài g̣n, lại càng tỏ thái độ ngang ngạnh, tiếp tục chở muối gạo là đồ cấm xuất cảng, sang Vân Nam bất chấp lệnh của quan lại địa phương. Dupuis cũng chả đếm xỉa ǵ đến chỉ thị của Đề đốc Dupré, thống đốc Nam Kỳ buộc y rút đi. (Ibid., 258, 272, 305-6, 321-5, 327-8; Fourniau, Vietnam, 241-3) Theo lời yêu cầu khẩn khoản của vua Tự Đức, Dupré cử Francis Garnier ra Bắc để thi hành lệnh trục xuất Dupuis. Garnier ra Hà Nội, theo lệnh ngầm của Dupré, thay v́ đuổi Dupuis, đă hợp tác với Dupuis và các giáo sĩ Công giáo Pháp để chiếm kinh thành Hà Nội, rồi Ninh B́nh, Nam Định, Hải Dương, và ra lệnh tự do lưu thông thương măi trên sông Hồng Hà. (ĐNTL, XXXII, 328-331, 336-341; Fourniau, Vietnam, 250-258). Vua và triều thần thấy ḿnh mắc mưu Dupré, và biết Dupré muốn t́m lợi thế để mặc cả một hiệp ước, mà y đă mong muốn lâu nay trước khi về nước. (ĐNTL, XXXII, 342). Một yếu tố thời cơ thuận lợi, mà có thể phía Việt Nam ngầm biết trong việc điều đ́nh, là việc chính phủ Pháp ở Paris không muốn có chiến tranh, v́ mới thua trận 1870 và mới vừa trả xong chiến phí cho Đức. Tin Hà Nội bị Garnier chiếm được loan ở Paris th́ Bộ Trưởng Hải quân Pháp đă đánh điện liền cho Thống đốc Nam Kỳ nhắc nhở việc chính phủ Pháp nhất thiết không muốn gây chiến ở Bắc Kỳ. (Fourniau, Vietnam, 258)

Vua Tự Đức gởi tiếp sắc phong cho Lê Tuấn và NVT được toàn quyền điều đ́nh để bày tỏ nhiệt tâm muốn ḥa b́nh của ḿnh; và đồng thời chỉ thị cho các sứ thần nhiệt liệt phản kháng việc 'nói một đàng làm một nẻo’ của thống đốc Nam Kỳ. ( ĐNTL, XXXII, 342) Dupré đành phải gởi thơ chỉ thị cho Garnier trả lại các tỉnh thành đă chiếm cho triều đ́nh. Thơ lập thành 2 bản, một do tàu thủy đưa ra cho Garnier, một giao cho NVT mang về tŕnh vua biết. NVT yêu cầu cho một đại diên Pháp đi theo để giải bày tự sự cho vua rơ. Philastre, Chánh sở Pháp lư Nam Kỳ, cựu thiếu tá hải quân được cử đi. Philastre được vua quan tiếp đăi rất nồng hậu. Rồi vua yêu cầu Philastre ra Bắc với NVT để giải quyết nội vụ, mặc dầu công tác của Philastre chỉ là tŕnh bày tự sự cho vua rơ thiện chí của phía Pháp, rồi về lại Sài g̣n, có tàu D'Estrées chờ sẵn ở Đà Nẵng. (Ibid., 342-4)

Với sự thỏa thuân của Thiếu tá chỉ huy tàu D’Estrées, thay v́ trở về Sài g̣n, Philastre cùng NVT ra Bắc, và đến Đồ Sơn ngày 24-12-1873. Trước đó 3 ngày Garnier đă bị Lưu Vĩnh Phúc giết cùng với một số bô thuộc. Philastre và các sĩ quan trên tàu đều nổi giận và đ̣i bỏ về Sài g̣n báo cho thống đốc Dupré định liệu. Sử ta đă kể nhiều, và một cách khá hănh diện, về việc NVT đă thuyết phục được Philastre tiếp tục công tác giao trả các tỉnh Bắc Kỳ, thay v́ trở về Sài g̣n. Trong khuôn khổ chiến thuật 'châm chước theo thời thế' đă nói trong bản tấu 8-3 Tự Đức 21, NVT đă giải bày với Philastre rằng: việc Garnier bị quân Cờ Đen giết, cũng như Nguyễn Tri Phương bị Garnier giết, chúng ta chỉ mới nghe nói, chưa rơ hư thực ra sao, vả lại đều là chuyện không phải do chúng ta gây ra. Ngoài ra, việc Garnier chiếm thành là do y tự ư làm trái lệnh của cấp trên như thống đốc đă xác nhận, và bên phía chúng tôi cũng không chống cự, tranh chấp với y, vậy cả hai bên không ai làm điều ǵ sai trái. Do đó, không có lư do ǵ mà bỏ lỡ sứ mạng của chúng ta, là trả lại các thành để sớm kết thúc hiệp ước thân hữu theo lệnh của thống đốc, cũng như nhận thành rồi mới thương nghị ḥa ước theo lệnh của vua nước tôi. Vậy ta nên tiếp tục công tác trả thành, đồng thời gởi thơ cho Hà Nội điều tra đầu đuôi câu chuyện Garnier và Nguyễn Tri Phương chết, xong rồi báo cáo tự sự về luôn một thể.

Philastre và các sĩ quan Pháp trên tàu D'Estrées nghe theo, gởi thơ cho phe nhóm Garnier ở Hà Nội thông báo việc trả thành, đồng thời yêu cầu họ điều tra và phúc tŕnh chi tiết về vụ Garnier. Khi Philastre muốn dùng tàu Décrès, và cho tàu D'Estrées về Sài g̣n báo cho thống đốc biết nội vụ, th́ NVT lại can không nên, v́ sợ sĩ dân nổi loạn, do sự hiểu lầm là việc trả thành bị đỗ vỡ, cho nên hai sứ thần Pháp Việt trở về theo chiếc tàu đă chở họ ra. Rồi NVT đề nghị, một mặt nên cho chiếc Décrès ra biển, đón chặn giặc biển để tỏ rơ thiện chí của Pháp; mặt khác dùng tàu D'Estrées đi Hải Pḥng, rồi đến Hải Dương giao trả ngay thành này, để tỏ rơ cho các giới đang tranh chấp sự ḥa thuận, thành thật và cương quyết của 2 bên Pháp và Việt trong việc giao nhận các nơi bị chiếm. Trong lúc chiếc Décrès chận bắt, tịch thu khí giới các thuyền giặc về đậu ở bến hoặc chạy ra biển th́ Philastre và NVT tiếp tục đi Hải Dương. ( ĐNTL, XXXII, 343-4, 348-352, 355-6)

B. Thu nhận các tỉnh thành Bắc Viêt bị Pháp chiếm

Việc giao hoàn và tiếp nhận vùng châu thổ Bắc Việt không giản dị, dễ dàng như sử sách thường đă ghi một cách tóm lược. Đó là một công tác cực kỳ phức tạp và khó khăn mà NVT và Philastre đă hoàn thành một cách khá mỹ măn. Trong ṿng không đầy 2 tháng dưới quyền cai trị của phe nhóm Garnier, vùng châu thổ sông Hồng đă nằm dưới quyền của khoảng trên 500 quân lính Pháp thuộc cả Dupuis và Garnier, và 14.000 người Việt theo Pháp, đa số là Công giáo theo các giáo sĩ Hội Thừa sai Hải ngoại ở Paris. (Fourniau, Vietnam, 258-263; McLeod, Mark W., The Vietnamese Response to French Intervention, 1862-1874. Praeger, 1991,107-122) Các tổng trấn Pháp ở các tỉnh thành bị chiếm đều chống lại việc rút quân và trả lại tỉnh thành cho triều đ́nh. Chuẩn úy Hautefeuille ở Ninh B́nh, với 5.000 dân quân lúc đó đang chuẩn bị kế hoạch chiếm đóng tiếp các tỉnh thành c̣n lại. Bác sĩ Harmand, ở Nam Định đang t́m con cháu nhà Lê để lập một nước Bắc Kỳ độc lập với triều đ́nh Huế. Jean Dupuis thân hành đi Sài g̣n để đ̣i thống đốc Dupré bỏ ư định rút quân. Đức Cha Puginier, người mà trong thực tế được xem như là lănh tụ Công giáo theo Pháp, sai LM Dumoulin vào Gia Định yêu cầu Sài g̣n ngưng việc trả thành, viện cớ như vậy sẽ đưa đến việc tàn sát tập thể giáo dân Bắc Việt. Phe văn thân đă nổi dậy nhiều nơi, và tàn phá, chém giết các khu Công giáo để trả thù việc các làng xă bên lương bị phe đạo theo Pháp tàn hại khi phe Garnier cầm quyền. Quân Cờ Đen và quân triều đ́nh, đóng ở lân cận các tỉnh thành bị chiếm, đă sẵn sàng chiến đấu để lấy lại các thành đă mất.

Việc đáng lo sợ trong t́nh thế sôi động, căng thẳng đến cực độ này, là phe Garnier và Công giáo theo Garnier có thể làm liều, biến Bắc Kỳ thành một nước tự trị, không cần đến sự tiếp tế của chính quốc hay Sài g̣n, và đặt Paris trước một việc đă rồi (fait accompli). Rồi tiếp theo, phe văn thân, Cờ Đen, và quan lại, quân đội Việt Nam sẽ có thể phản ứng lại, đưa đến một cuộc nội chiến khủng khiếp. (Fourniau Vietnam, 268-273) Trước một t́nh thế phức tạp như vậy, NVT và Philastre lấy ǵ mà đối phó? NVT có một số lính theo phục dịch, giữ an ninh và cầm lọng, 2 nhân viên văn pḥng làm giấy tờ, và 1 thông ngôn là LM Hoằng. Nếu có được một hậu thuẫn ǵ là do ở sự liên lạc với các quan lại triều đ́nh ở trong vùng, nhứt là các quan đă từng quen biết lúc NVT đánh giặc ở đó. C̣n lực lượng của Philastre th́ chỉ gồm có một số sĩ quan và binh sĩ trên hai chiếc tàu D'Estrées và Décrès. Một trở ngại khá quan trọng cho Philastre là vấn đề danh nghĩa: Philastre ra Bắc không do sự ủy nhiệm của thống đốc Nam Kỳ, mà theo lời yêu cầu của vua Tự Đức và NVT, viện cớ là cần giải quyết vấn đề Bắc Kỳ trước đă, rồi mới nói đến điều đ́nh hiệp ước sau. Để vượt qua trở ngại đó, Thiếu tá Testard du Cosquer, chỉ huy tàu Décrès, với danh nghĩa là sĩ quan cao cấp và thâm niên nhất, tự bổ nhiệm ḿnh làm chỉ huy lực lượng hải lục quân Pháp hiện diện ở Bắc Kỳ lúc đó. Rồi lấy tư cách đó, Testard bổ nhiệm Philastre thay thế Francis Garnier, và Đại úy Balézeaux, phụ tá của ḿnh, làm Tư lệnh chỉ huy cuộc hành quân rút ra khỏi Bắc Việt.

Với tư cách là kẻ kế vị Garnier để giải quyết vụ Dupuis, Philastre cùng NVT và Balézeaux đến thành Hải Dương ngày 28-12-1873, và theo đề nghị của NVT, trao trả mau chóng thành đó như là một bằng chứng của sự thành thật hợp tác giữa Pháp và Việt, hầu thoa dịu mối căm thù giữa các phe đối nghịch. Ngày hôm sau, 29-12 NVT và Philastre kư ngay một thỏa hiệp sẽ được thi hành liền 2 ngày sau, và công bố ngay cho công chúng biết: Bên Pháp cam kết rút quân khỏi thành [để làm yên ḷng quan quân, văn thân, và dân chúng]; phía Việt cam kết sẽ làm dễ dàng cuộc rút quân của Pháp, và, sau khi thành được giao nhận, sẽ ân xá tất cả những người Việt đă được nhà chức trách quân sự Pháp sử dụng tạm, và bảo vệ họ chống mọi sự xâm phạm, đồng thời, trong một phạm vi có thể được, sẽ cung cấp chức vụ thích hợp với khả năng của họ [để trấn an phe Garnier và phe Việt theo Garnier]. Trong thỏa hiệp, Philastre đă kư với tư cách là

'Đại úy Hải quân ... được sự ủy nhiệm của Thượng thư bộ ngoại giao Triều đ́nh Huế, và được chỉ định khẩn cấp bởi ông Testard, Thiếu Tá Hải quân, chỉ huy lực lượng hải quân Pháp ở Bắc Kỳ, để thay thế ông Garnier trong sứ mạng chính trị ở Bắc Kỳ, hành động nhân danh Thống đốc Nam Kỳ ...' (Taboulet, George, La geste francaise en Indochine, Tome deuxième. Paris, Adrien-Maisonneuve, 1956, 739, NQT dịch).

Mặc dầu mọi cố gắng, công tác trả thành vẫn c̣n đầy dẫy khó khăn và nguy hiểm, v́ sự chống đối của phe Việt theo Pháp. Ở thành Hải Dương lúc đó có độ 30 quân Pháp, và trên dưới một ngàn dân quân do một tổng đốc Công giáo gốc thợ rèn, chỉ huy. Nghe tin phái bộ NVT đến, 'Tổng Đốc Trương ' đang đi hành quân trở về để âm mưu thủ tiêu ông này. Khâm sai NVT đă ḍ biết và cương quyết yêu cầu phía Pháp bắt viên Tổng đốc và đem y xuống tàu giam lại. Ngày sau, 30-12 quân đội Pháp-Việt ở Hải Dương giải tán, cấp lính được phân tán, c̣n cấp chỉ huy được tạm giam giữ trong thành rồi phóng thích sau. Trong lúc đó th́ Trentinian [sau này lên tướng và có làm quyền thống đốc Nam Kỳ], thuộc hạ của Garnier và chỉ huy quân đội Pháp ở Hải Dương, lập bản kê khai tài sản trong thành và giao lại cho NVT. Ngày 2-1-1874, quan tỉnh, mới được NVT bổ nhiệm, vào nhận thành, đến lạy vị khâm sai, rồi ra lệnh cho quân đội triều đ́nh rải ra chung quanh các bờ thành. Lúc đó, các người Pháp đi ra khỏi thành. Cùng đi đầu với sứ thần khâm sai NVT là 2 ông Philastre và Balézeaux; theo sau họ là quan và lính trong đoàn tùy tùng của NVT; rồi đến Trentinian và bộ đội của ông. Tất cả cùng đi xuống bến sông, đáp sa-lúp Sơn Tây của Dupuis để lên Hà Nội. (Romanet du Caillaud, F., Histoire de l'intervention francaise au Tonkin de 1872 à 1874. Paris, Challamel Ainé, 1880, 236-240; ĐNTL, XXXII, 236-7) Cuộc rút lui và giao nhận thành xảy ra tốt đẹp, êm thắm! Ảnh hưởng chính trị tâm lư của thí nghiệm trao trả Hải Dương này đối với mọi phe nhóm ở Hà Nội, Nam Định, Ninh B́nh - Garnier, Puginier, Văn thân, quan lại triều đ́nh, dân chúng - có thể nói là sâu rộng chẳng kém ǵ ảnh hưởng của vụ Garnier chiếm thành Hà Nội đối với các tỉnh thành lân cận đă bị phe Garnier thôn tính luôn sau đó. NVT đă dốc toàn lực trong vụ này:

' ông đă làm việc theo một nhịp độ sấm sét (activité foudroyante [Con la rapidez del rayo]) để tái lập uy quyển của nhà vua tại Hải dương. Ông gởi từng đợt này liên tiếp đến đợt khác các người đưa công văn bổ nhiệm các viên chức; không có một phủ huyện nào mà ông không cho người đến làm việc.' (Romanet, op. cit., 238) Tuân theo mẩu mực đó, các thành Ninh B́nh, Nam Định rồi Hà Nội được tiếp tục giao nhận. (Romanet du Caillaud, op. cit., 241-256; Fourniau, Vietnam, 272) Hai nhân vật cay cú nhứt trong vụ này là Đức Giám mục Puginier và Jean Dupuis, những người đă coi Bắc Kỳ như nuốt vào rồi mà phải nhă ra lại. Từ đó họ không ngừng tố cáo NVT là kẻ thù số một của Pháp và của Công giáo. (Louvet, L.E., Vie de mgr Puginier. Hanoi: F.H. Schneider, 1894, 457 & passim; Dupuis, Jean, Le Tonkin de 1872 à 1886. Paris, A Challamel, 1910, 544-559, & passim)

C. Sách lược chống Pháp: ‘Ḥa để mưu chiến’

Giải quyết xong vụ Bắc Kỳ, NVT liền về Huế và vào lại Sài g̣n để cùng Lê Tuấn kư kết Hiêp Ước Ḥa B́nh và Thân Hữu ngày 15-3-1874, và sau đó, Hiệp Ước Thương Măi ngày 31-8-1874. Trước âm mưu thôn tính toàn nước Việt Nam bằng cách áp đặt một hiệp ước bảo hộ, NVT đă lợi dụng thời cơ tranh đấu để đạt được một nền ḥa b́nh trong đó Việt Nam tránh được sự 'bảo hộ' của Pháp mà giữ được chủ quyền nội bộ, hầu thực thi sách lược tự cường của ḿnh. Sách lược đó đă được tŕnh bày trong bản tấu ngày 8-3 Tự Đức 21 nói trên như sau:

"... Từ xưa việc chống rợ không có thượng sách, chỉ châm chước theo thời thế mà thôi. Ốm đau mới khỏi, không thể dùng thời được. Cho nên giao hảo với Hung Nô [Pháp được NVT xem như một loại rợ giống như Hung Nô vậy; NQT ct.] th́ phải chầm chậm nhẫn nhịn chấp nhận, lời lẽ nhỏ nhẹ, lễ vật nhiều mới có thể rốt cùng được sinh dưỡng nghỉ ngơi, để tạo nên sự nghiệp giàu có ... Người xưa nói rằng chiến rồi sau mới thủ, thủ rồi sau mới ḥa được, cũng là chỉ cái thế lực tương đương vậy. Như nay xem xét t́nh thế hiện tại giữa ta và nó, thần xin nói rằng: ḥa để thủ, thủ để mưu chiến mới hợp cơ nghi, mà may mắn mới không sai lầm. Xin nguyện: hoàng thượng duy tŕ sự giao thiệp với nước lân bang, có đường lối, dần dần bày tỏ sự thành thực, sửa đổi việc nội trị, không quên điều nhục nước, thận trọng chọn người chăn dân, cầm binh, lo nuôi dưỡng dân, chiêu hiền, ắt như Hán Cao Tổ vào đất Ba Thục, tiết giảm của dùng, công dịch, việc sinh tụ dạy dỗ ắt như Câu Tiễn ẩn nhẫn ở Cối Kê, trên dưới một ḷng, tôn thân, hiền sĩ giúp đỡ hoặc có thể đợi vận trăm năm của triều đ́nh để duỗi cái uy trong nước."

Nói cách khác, theo NVT th́: việc chống Pháp, cũng như chống rợ hồi xưa, không có thượng sách, chỉ châm chước theo thời thế mà thôi. Người Pháp quỹ quyệt từ 10 năm nay rồi, mà ta không đủ lực đánh đuổi họ, mà kư hoà ước với họ rồi, họ cũng tiếp tục nuốt lời, t́m cách đánh ta nữa cho đến lúc họ thôn tính được hết. Vậy ta phải t́m một thế ḥa nào cho phép ta giữ được những ǵ c̣n lại để mà từ đó ngầm mưu chiến lấy lai những ǵ đă mất khi thời cơ cho phép. Muốn giữ th́ một mặt ta phải lo tăng cường sức mạnh, củng cố nội bộ để cho địch thấy rằng muốn đánh ta nữa cũng khó khăn, tốn kém chớ không phải dễ dàng, một mặt phải hết sức mềm dẻo, nhịn nhục, nhẫn nại, dùng lễ vật rất nhiều đối với chúng để chúng khỏi sinh nghi ngờ và t́m cớ gây sự nữa. Tóm lại, đó là cáí kế: ḥa để thủ, thủ để mưu chiến, giống như kế của Hán Cao Tổ vào đất Ba Thục, hay Câu Tiễn ẩn nhẩn ở Cối Kê, chuẫn bị, chờ đợi thời vận.

NVT cũng tâu tŕnh thêm lên vua trong một dịp khác rằng, với tư cách là một chư hầu, ta có hy vọng dựa vào đàn anh Trung quốc để chống Pháp. Thật vậy, trong khuôn khổ chính sách 'nội hạ ngoại di' chi phối nền ngoại giao của các nước Đông phương, Trung quốc có nghĩa vụ phải bênh vực một đàn em đă thần phục ḿnh. Nước Tàu từ đời nhà Hán theo chủ nghĩa đại Hán tộc tự cho ḿnh là hoa hạ, văn minh, c̣n xung quanh ḿnh, như Hồ, Kim, Liêu, Mông, Măn, Việt Nam đều là man di cả. Nếu các rợ, hay dân tộc man di phá rối, xâm chiếm bờ cơi nước văn minh hoa hạ, th́ Trung quốc cần phải xâm chiếm cai tri, dạy dỗ họ theo lề lối văn minh của ḿnh. Nhưng nếu họ khác biệt với Trung quốc mà không gây rối, chịu chấp nhận nền văn minh Trung quốc bằng cách thần phục, triều cống, th́ Trung quốc sẵn sàng thừa nhận tư cách chư hầu của ngoại di, và bảo vệ, giúp đỡ họ để tự họ học hỏi noi theo lề lối văn minh của Trung quốc, không cần phải dùng đến vơ lực.

Việt Nam đă từ lâu tự coi ḿnh là chư hầu của Trung quốc. Đồng thời, Việt Nam tự coi chính ḿnh là 'hoa hạ' đối với các nước khác bên phía tây của ḿnh, và cho họ là ngoại di, như Lào, Miên, Chàm cùng các sắc tộc thiểu số như Thủy Xá, Hỏa Xá, và nhận triều cống của các dân tộc thua kém này. Rồi ngay cả các nước Tây phương cũng được Tàu và Việt Nam cho là ngoại di, Tây di hay Tây dương. (Về 'nội hạ ngoại di, xem Trần Văn Giàu, Sự phát triển của tư tưởng ở Việt nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám. Nhà xuất bản TPHCM, 1993, 395-398) Việc triều cống thần phục chỉ có ư nghĩa tinh thần và tượng trưng, v́ bên nhận phẩm vật triều cống cũng cho lại bên kia một số phẩm vật tương đương, có khi c̣n hơn nữa. Nhưng cái khía cạnh quan trọng của hệ thống ngoại giao 'nội hạ ngoại di' này là hai bên có nghĩa vụ trợ giúp lẫn nhau, và nước Tàu, khi nhận triều cống của Việt Nam, có cái 'nghĩa vụ', v́ uy tín của chính ḿnh, phải bảo vệ nước này chống lại Pháp. (Xem thơ vua Tự Đức gởi vua Tàu nhân dịp Phái đoàn Nguyễn Thuật mang đồ cống hiến sang Bắc Kinh năm 1880, và Sắc lệnh 27-8-1884 của vua Tàu tuyên chiến với Pháp v́ việc Việt Nam ở: Couvreur, S., Choix de documents: letters officielles, proclamations, edits, mémoriaux, inscriptions-/texte chinois avec traduction en francais et en latin. Taipei, Republic of China: Li Ming Cultural Enterprise, 1983,, 207-215, 265-273) Trong một bản tấu ngày 18-5 Tự Đức 26, 1873, NVT đă lưu ư vua đến vai tṛ này của Trung quốc. Ta sẽ thấy Trung quốc thực hiên nghĩa vụ này vào khoảng cuối đời vua Tự Đức và thời các vua kế tiếp, đặc biệt nhứt là sau khi cái ấn của vua Tàu ban cho vua Gia long bị công khai hủy diệt, theo lời yêu cầu của NVT, nhân lúc Hiệp ước Patenôtre được kư kết.

D. Ǵn giữ chủ quyền để mưu chiến qua các hiêp ước 1874

 

*** H́nh của Nguyễn Văn Tường do tác giả Gosselin tŕnh bày trong sách của ông (L'Empire d'Annam. Paris, Perrin, 1904, sau trang 188), với lời ghi chú ở trang 207, chú thích 1: "Chúng tôi tri ân Đề dốc Krantz, cựu Thống đốc Nam Kỳ, cựu Tổng trưởng Hải quân, đă gởi cho tấm h́nh rất quư giá của Phụ chánh Tường, một tấm h́nh duy nhất hiện có của nhân vật đó, được chụp ở Saigon, khi ông làm Sứ thần của Vua Tự Đức để kư kết hiệp ước vào 1874. Xin Đề đốc nhận nơi đây lời cám ơn của chúng tôi về tài liệu ấy, một tài liệu rất quan trọng, v́ vai tṛ mà ông Tường đă giữ trong cuộc tranh đấu của nước ông chống lại chúng ta." NQT dịch.***

Trong khuôn khổ sách lược đó, NVT đă tranh đấu mănh liệt với Thống đốc Dupré đến phút chót, để tránh một hiệp ước bảo hộ qui ước, hầu bảo toàn chủ quyền nội bộ trên phần đất Trung Bắc c̣n lại của quốc gia, hầu có thể tiếp tục thực thi kế sách tự cường dài hạn mà ḿnh đă từng đề nghị lên vua. Sở dĩ phải tránh chữ 'bảo hộ', là v́, ngoài việc nó bao hàm ư nghĩa 'đô hộ', danh từ đó c̣n cho phép người Pháp giải thích hiệp ước theo một nghĩa tổng quát, rộng rải, rồi với lư của kẻ mạnh, có thể đ̣i hỏi bất cứ điều ǵ nhân danh chữ 'bảo hộ' như ta sẽ thấy sau này. Theo NVT, một khi Việt Nam nhượng bộ một khoản ǵ th́ phải nói thật rơ, và như vậy phải được giải thích theo nghĩa hẹp như là một biệt lệ mà thôi. Thật vậy, " Vị đề đốc mỗi ngày mỗi bị thúc dục phải kết thúc. Sức khoẻ của ông đă lung lay và ông đă được cho nghỉ phép. Ngày 15 tháng 3, mặc dầu mọi sự tương nhượng, hiệp ước vẫn chưa được kư kết. Người An-nam quả nhiên từ chối sự ghi vào chữ 'bảo hộ' trong hiệp ước. Nhưng mà đề đốc sắp phải lên đường ngày mai. Ông nổi nóng, hăm dọa tấn công Huế với một hạm đội. Ông dựt được sự đồng ư của ông Tường về hiệp ước, nhưng đă phải loại ra danh từ 'bảo hô'." (Devillers, op. cit., 197, NQT dịch) Hai hiệp ước do NVT kư kết trong năm 1874 đă làm căn bản pháp lư cho cuộc bang giao Pháp Việt trong 9 năm cho đến khi Hiệp ước Harmand được kư kết vào ngày 25-8-1883. Trong khuôn khổ các hiệp ước 1874 này, triều đ́nh c̣n toàn quyền hành xử chủ quyền nội bộ của ḿnh, để thực thi kế hoạch tự cường, hầu giữ đất và mưu chiến khi thời cơ cho phép như đă dự trù trong kế hoạch dài hạn. Cũng trong bản tấu đă nói ngày 8-3 Tự Đức 21, 1868 NVT đă tŕnh bày phương cách tự cường như sau: "Từ xưa, muốn cho nước mạnh, chưa từng không chú ư đến binh lực, của cải hai điều." Muốn có binh lực mạnh phải có của cải nhiều để canh tân quân đội, và có quân đội mạnh giữ ǵn an ninh trật tự th́ kinh tế mới có thể phát triển, của cải mới gia tăng được. NVT đă nhận chân cái sự thực của muôn đời, là phải có thực lực mới ngoại giao hiệu quả được. Mà muốn có điều kiện để xây đắp cái thực lực đó, đối với Pháp ta phải

" bên ngoài ...lấy vẻ mặt tươi cười chờ đợi, bên trong lại nghiêm chỉnh tự trị, binh khí, thuyền súng có chuyên viên đảm trách, người người tự nỗ lực, tự mưu tính để chờ cơ hội, th́ cái hiệu nghiệm xế chiều cũng không phải là muộn vậy." (Tấu nghị 10-8 Tự Đức 26, 1873)

Trong hiệp ước 15-3-1874, NVT t́m cách giữ lại cái quyền ngoại giao với Trung quốc qua câu nói trong điều 3 rằng "Vua nước Nam cam kết ... không thay đổi đường lối ngoại giao hiện hữu của ḿnh ", v́ từ lâu nay Việt Nam vẫn bang giao với Trung quốc, vẫn triều cống 4 năm một lần. Nhờ đó về sau này, Việt Nam đă nhờ được thế Tàu để chống Pháp, kéo dài sự độc lập của triều Nguyễn trong một thời gian khá lâu. Công tác quan trọng nhất và ảnh hưởng lâu dài nhất trong phương sách tự cường là sơn pḥng, hay bảo vệ, mở mang miền sơn cước, biên thùy. Dưới danh nghĩa sơn pḥng, triều đính đă ngầm chuẩn bị công cuộc kháng chiến chống Pháp. Người đă đem lại nhiều thành quả quan trọng trong công tác sơn pḥng là NVT sau 8 năm khai khẩn vùng Tân Sở với tư cách là Tri huyện, và bang biện Thành Hóa, Cam lộ. Ư tưởng dùng vùng Tân Sở, Quảng Trị làm kinh đô thứ hai đă manh nha từ 1868, và không lâu sau khi hiệp ước 15-3-1874 được kư, vua Tự Đức đă cùng NVT nghiên cứu rất nhiều về địa h́nh, địa vật vùng Tân Sở, và đặt nặng hơn nhiều việc mở mang phát triển vùng này. (Bản tấu ngày 20-1 Tự Đức 28, 1875). Sau khi các hiệp ước 1874 đựợc kư, vua Tự Đức

cho rằng sơn pḥng đă không nên không, đồn điền cũng không nên ít ... hiện nay Nam kỳ th́ bờ cơi cũ chưa khôi phục được ... kế sách tự cường tự trị không thể không sớm phải làm, hiện nay chỉ chuyên làm việc ở trung châu, bổ ích có hạn sao bằng thay cũ mà đổi mới, để ư vào biên pḥng, chấn hưng mối lợi tự nhiên của trời đất, làm nền tảng mở mang của nước nhà. ... các tỉnh Tả kỳ ... Hữu kỳ ... Thanh Hóa Ninh B́nh đều đặt sơn pḥng, ... cho việc pḥng bị được nghiêm, tuy nói rằng: để vững bờ cơi ta, thực để pḥng bị mối lo không ngờ ... phải chứa thóc, đóng quân để dùng cho ngày khác.’ (ĐNTL, XXXIII, 226-7, NQT nhấn mạnh)

Rồi dần dà trong khuôn khổ sơn pḥng, các căn cứ quân sự được thiết lập trong vùng núi non của hầu hết các tỉnh ở Trung và Bắc Việt để lâm thời trở thành những chiến khu chống Pháp. Dân quân trong các căn cứ này do quân đội cấp tỉnh cung cấp, sinh sống tự túc bằng cách khai khẩn đất mới, trồng trọt, thành lập chợ búa, hệ thống giao thông, vừa bảo vệ an ninh cho chính ḿnh và thôn xóm ḿnh lập ra. Đặc điểm của hệ thống sơn pḥng là sự địa phương phân quyền, sự tự trị, tự túc không gây gánh nặng cho ngân sách quốc gia, và không thống thuộc quân đội chính quy, mặc dầu hai bên và giữa các sơn pḥng có thể phối hợp với nhau qua các quan lại do trung ương bổ nhiệm, hoặc quân biệt phái của triều đ́nh. Dù cho hệ thống quân đội trung ương có tan vỡ, các sơn pḥng vẫn có thể tiếp tục chiến đấu dựa vào dân quân và dân chúng trong vùng. Hệ thống sơn pḥng nằm trong sách lược chiến đấu trường kỳ, khai thác sở trường và sở đoăn của địch và ta. Trong vùng rừng núi, địch khó ḷng di chuyển trọng pháo lớn bằng thuyền tàu để dễ dàng thắng ta; địch khó ḷng chịu đựng lam sơn chướng khí. Bộ binh địch khó ḷng truy lùng quân ta trong các hang cùng ngỏ hẽm. Ta có thể dễ dàng tiêu diệt địch với vũ khí thô sơ ít tốn kém, như cung tên, trong vùng núi non hiểm trở mà chỉ người địa phương mới quen thuộc. Ta c̣n có thể dựa vào sự trợ lực của các đồng bào thiểu số đă được phủ dụ. Nội trong năm 1875, sơn pḥng của tỉnh Quảng Trị và của nhiều tỉnh khác đă được thiết lập, rồi từ đó sơn pḥng ở các nơi khác nữa nối tiếp nhau xuất hiện. Song song với sơn pḥng, triều đ́nh cũng khuyến dụ các làng xă thành lập đoàn nhân dân tự vệ để bảo vệ xóm làng, giảm bớt gánh nặng cho quốc gia. Hệ thống sơn pḥng và nhân dân tự vệ này đă góp phần không nhỏ vào việc kháng chiến Cần Vương măi cho đến ít nhất là 1896. Từ đó ta có thể truy nguyên ra nguồn gốc của chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân đă được cải tiến hơn về các đời sau này. Hệ thống đường 'thượng đạo' nối liền các sơn pḥng được quân nhân Pháp hồi đó gọi là 'quan lộ miền núi' [ route mandarinale des montagnes ], và là tiền thân của con 'đường ṃn Hồ Chí Minh' sau này. (ĐNTL, XXXIII, 226-7, 240-3, 255, 260-1, 273, 281; XXXIV, 37-8, 42-3, 48-9, 116-7, 335-7, 349, 375-6); Fourniau, Vietnam, 370, 376-8, & passim; Gosselin, op. cit. , 217; Phương Anh Trang, "Căn Cứ Tân Sở " Tiếng Sông Hương, 2000, 77-94)

Ngoài ra, 5 chiếc tàu, 100 khẩu đại bác, và 1.000 súng điểu thương [fusils à tabatière] được Pháp tặng theo hiệp ước đă được sử dụng khá hữu hiệu mặc dầu nhiều khó khăn trong việc điều hành và bảo tŕ về dài. Sử sách thực dân thường chỉ trích vua Tự Đức đă không canh tân quân đội để thuyền rét rỉ hết, (Hoàng Cơ Thụy, Việt sử khảo luận. Hội Văn hóa Hải ngoại, Antony, Pháp, 2002, 1231) nhưng chính sử đă cho thấy các tàu Pháp tặng từ 1876 đă được dùng để vận tải hàng hóa qua lại Hồng kông, đánh dẹp giặc biển hay chuyên chở gạo từ Bắc vào Trung, v. v. măi đến 1885 vẫn c̣n dùng, 2 chiếc bị Harmand đ̣i lại khi kư Hiệp ước 1883, và chỉ một chiếc bị hư hỏng. ( ĐNTL, XXXIII, 347, XXXV, 17, 222, 353; Delvaux, A. "Quelques précisions sur une période troublée de l'histoire d'Annam", BAVH, số 3, 1941, 238) Đại bác Pháp tặng, cho đến 1883 vẫn c̣n được sử dụng, và đă bắn trúng các tàu Vipère và Bayard của Đề đốc Courbet năm 1883, lúc ông này đánh Cửa Thuận. (Delvaux, ibid., 237) Hơn nữa, trong chương tŕnh canh tân quân đội, triều đ́nh đă xúc tiến những công tác nhập khẩu bí mật vũ khí và đạn dược, và chế tạo súng máy kiểu Hoa Kỳ và Đức. (Xem thư 10-3-1884 của Courbet gởi bộ trưởng hải quân ở Trần Viết Ngạc, " Những tư liệu mới về Nguyễn Văn Tường ", Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 2[36].2002, 111-3) Đến đầu xuân 1884, theo chính sử th́: "Súng máy do hai nước Hoa Kỳ và Phổ-lỗ-sĩ... mới chế ra ... trải thí nghiệm dạy tập, đều đă được khéo léo và thành thục, th́ tiết phụng cho chế tạo. Nguyễn Xuân Phiếu cùng các lính thợ đều được đặc cách ban thưởng khác nhau..." (ĐNTL, XXXVI, 69). Sáng chế này có thể là nguyên ủy của việc Cao Thắng và Phan Đ́nh Phùng chế tạo ra súng Tây. Ngoài ra, v́ lư do an ninh quốc gia, việc hợp tác với Pháp để canh tân quân đội và đào tạo chuyên viên, đă không thực hiện được. Triều đ́nh đă không quên t́m cách gởi sinh viên đi học tập qua ngă Trung quốc, nhưng v́ thời cuộc dồn dập quá mau, kết quả của các cuộc đầu tư nhân lực dài hạn đó chưa thu thập kịp. (ĐNTL, XXXIV, 90-1)

Nhận thấy kế sách chống Pháp của NVT đề nghị đă mang lại hiệu quả thiết thực, vua đă bổ nhiệm NVT làm thượng thư bộ H́nh, và phong cho tước Kỳ vĩ bá. Rồi lại đổi ông sang bộ Hộ để chuyên lo việc tăng gia tài nguyên của cải, hầu có đủ phương tiện tăng cường quân lực. Đồng thời, NVT cũng kiêm sung Thương bạc Đại thần để phụ trách về ngoại giao, giữ cho Pháp khỏi xâm phạm vào chủ quyền nội bộ của quốc gia, và Cơ mật viện đại thần để giúp vua lo về việc quân quốc tối hệ. ( ĐNTL, XXXIII, 58, 211) Tương quan vua tôi giữa Tự Đức và NVT trở nên hết sức mật thiết, giống như giữa Câu Tiễn và Phạm Lăi lúc ở Cối Kê cùng lo toan việc chống Ngô Phù Sai. Như đă nói trên, các sử gia Pháp thường cho NVT là cố vấn riêng của Tự Đức. Đại lư Pháp cạnh triều đ́nh Huế là Rheinart, người đă giữ chức vụ này trong phần lớn giai đoạn từ 1875 về sau, đă cho NVT là kẻ thù bất cọng đái thiên của Pháp. Rheinart cùng các sứ thần Pháp như de Champeaux đă t́m mọi cách lũng đoạn triều đ́nh, hăm dọa, mua chuộc vua quan, hoàng thân quốc thích để áp đặt một nền bảo hộ trên phần đất c̣n lại của Việt Nam. Họ thường dùng cái lư của kẻ mạnh để giải thích và áp dụng hiệp ước một chiều theo quyền lợi của Pháp; nhưng mọi thủ đoạn của họ đều bị NVT vô hiệu hóa.(" M. Rheinart, premier chargé d'affaires à Hué, Journal, notes, et correspondance ", Bulletin des Amis du vieux Hué [BAVH], số 1 & 2, 1943, 181, & passim)

V́ vậy, Rheinart kiếm cách bôi lọ NVT bằng mọi cách, như gởi thơ thẳng cho vua nói quan Thương bạc hối lộ của thương gia Tàu nên cho họ được thầu khai thác hầm mỏ ở Quảng Nam; (ĐNTL, XXXIV, 341) hoặc phao ra tin đồn là thượng thư bộ Hộ ăn tiền của nhà buôn Tàu nên cho nhập cảng đồng tiền dị dạng;(ĐNTL, XXXIV, 370; Delvaux, Ibid., 254-5; ĐNTL, XXXVI, 179-180) hay NVT lấn quyền vua, bưng bít, ngăn cản không cho sứ Pháp diện kiến vua. (" Bài dụ đuổi viên hành nhân Nguyễn Hoằng ", Thơ văn Tự Đức, Tập 2, Ngư chế văn tam tâp, Nhà xuất bản Thuận hóa, Huế, 1996, 174-178) Cả thảy đều vô dụng, v́ đều là bịa đặt, vu cáo, và vua Tự Đức biết rơ ḷng trung trực liêm cần của NVT hơn bất kỳ ai. Rút cục, y gởi thơ cho thống đốc Nam Kỳ nói rằng, với ông Tường ở đó, tôi chả làm ǵ được cả, chỉ c̣n cách mang quân ra đánh Huế mới mong đ̣i hỏi được điều ǵ. (Livre jaune. Affaires du Tonkin, 2e Partie, déc. 1882 à 1883: Livre jaune B, 68 và 69 do Delvaux dẫn, "La légation de France à Hué", BAVH, số 3, 1941, 42)

Thật ra, vua Tự Đức đă áp dụng sách lược ngoại giao do NVT đề nghị, một mặt rất nhẫn nhịn, mềm dẽo, ân cần, lễ vật rất nhiều đối với Rheinart, như thường xuyên cho quan đến biếu y nhiều loại cầm thú mà vua săn được, hoặc của ngon vật lạ hiếm có, để giảm bớt tính khí hung hăn của y, ("M. Rheinart... ", BAVH, số 1 & 2, 1943, passim); một mặt lạị hết sức cương quyết ǵn giữ uy quyền của ḿnh, như nhất thiết giữ khoảng cách, không cho y được diện kiến, v́ theo phụ ước kư kết chiếu theo điều 20 của Hiêp ước 15-3-1874, th́ vị sứ Pháp được xếp ngang hàng tham tri, và chỉ được quyền tiếp xúc với Thương bạc đại thần mà thôi. (ĐNTL, XXXIII, 180-1) Về vụ đấu thầu hầm mỏ ở Quảng Nam, vua sai Nguyễn Thành Ư, Khâm sai đại diện triều đ́nh ở Sài G̣n, phản kháng việc Rheinart vu cáo NVT với thống đốc Pháp, và sau đó một thời gian ngắn, de Champeaux ra thay Rheinart đi nghỉ phép. Đi sâu vào chi tiết hơn chút nữa, ta thấy trong vụ hầm mỏ này, Rheinart muốn can thiệp có lẽ để dành quyền lợi khai thác cho doanh nhân Pháp, mà bộ Hộ của NVT không cho, bắt phải theo đúng pháp luật dự thầu như mọi người. Về sau đến đời Đồng Khánh và Nguyễn Hữu Độ, Khâm sứ Pháp tư giấy đ̣i triều đ́nh cho phép Đô Phối [Jean Dupuis]

"trước đă lănh trưng ba hạng các thứ gỗ, tre, dây song ở 2 hạt: Thanh Hóa Nghệ An. Nay xin lănh trưng luôn 3 năm cả các hạng thuế sản vật ở đầu nguồn ". Và "Cho bộ Hộ nghĩ định các điều khoản giao cho để nhận làm."

Rồi khế ước lănh trưng được soạn kư với Đô Phối ngay không cần qua thủ tục đấu thầu ǵ hết.(ĐNTL, XXXVIII, 105) Có đọc chính sử mới biết những chuyện như vậy, sử sách thực dân đâu có bao giờ cho ta biết những bí mật đó của các quan toàn quyền khâm sứ Pháp, chỉ vu khống vua quan Việt Nam tham nhũng, thối nát, hối lộ đủ điều thôi. Về vụ đồng tiền dị dạng, NVT xin từ chức v́ bị lời gièm pha. Vua Tự Đức, sau khi thân hành điều tra, đă không cho thôi và dụ rằng:

''... Nguyễn Văn Tường từ lúc giữ việc bộ Hộ đến giờ, có phần hết ḷng trù tính, thuế khóa của nước có hơn lên; đương lúc phải giữ đà về quân nhu bận rộn, đều được ổn thỏa cả. Trẫm đang trách ủy cho làm có thành hiệu sao nên tự đẩy đem thoái thác." (ĐNTL, XXXIV, 370)

Về việc phía Pháp vu cáo NVT bưng bít, lấn quyền vua không cho sứ Pháp gặp riêng vua, Tự Đức ra dụ khẳng định rằng việc diện kiến không có trù định trong hiệp ước, nên không thể thỏa măn đ̣i hỏi của sứ Pháp được, và việc

"... người nước Pháp rất ghét viên bạc thần trước là Nguyễn Văn Tường, tất sẽ dùng thế lực cưỡng bách truất thoái để đẩy đi xa...[] Ôi!...Nguyễn Văn Tường giúp v́ nước nhà, cũng tức như viên sứ Pháp giúp v́ nước Pháp, cái đạo làm tôi tất phải như thế, có ǵ mà đáng ghét? ...hạng bề tôi như vậy c̣n nước nào mà chẳng thích dùng? Tướng nước Pháp cũng nên ban thưởng để khuyến khích cho những kẻ làm tôi trong thiên hạ và để gương đời sau vậy ... như thế mới hợp cái đạo trị nước, chớ khi nào lại xô đuổi bỏ đi ..." ("Bài Dụ Đuổi viên Hành nhân Nguyễn Hoằng ", Thơ Văn Tự Đức, Tập II, 176-7).

Đối với thần dân, vua cương quyết khẳng định uy quyền của ḿnh trên cả người lương lẫn đạo. Một mặt, phe văn thân cực đoan làm loạn ở Hà Tĩnh, diệt đạo rồi chiếm thành chống luôn cả chính quyền, bị đàn áp thẳng tay, và các thủ lănh bị xử tử. (ĐNTL, XXXIII, 77, 107) Mặt khác, LM Lê Ân ở Xuân Ḥa, xúi dục giáo dân đi kiện, và gặt lúa của các làng bên lương, bất chấp phép nước, gây xáo trộn an ninh trật tự, bị truy tố, và xử phạt trượng và phát lưu, đúng theo luật pháp, mặc dầu sự can thiệp của sứ thần Pháp Rheinart về vấn đề áp dụng điều 9, khoản 5 trong hiệp ước 15-31874 liên quan đến việc các cha cố bản xứ được miễn đánh roi trượng. (ĐNTL, XXXIV, 114; Cao Huy Thuần, Les missionnaires et la politique coloniale au Vietnam [1857-1914], Yale et Amiens, 1990, 228-235; "M. Rheinart...", BAVH, số 1 & 2, 1943, 57). Nhờ những biện pháp cương quyết, mạnh mẽ như vậy mà sự rối loạn do các tranh chấp lương đạo xảy ra sau vụ Garnier Dupuis dần dần lắng dịu, và trật tự mới từ từ được văn hồi.

Đối ngoại, triều đ́nh vẫn tiếp tục gởi phái đoàn sang triều cống vua Tàu vào 1876 và 1880, 4 năm 1 lần, và thư từ qua lại với các tổng đốc Quảng Đông và Quảng Tây về vấn đề giải quyết giặc Tàu tràn qua biên giới quấy nhiễu ở vùng thượng du Bắc Kỳ, như vụ Lư Dương Tài. Cuối năm 1878, một viên chức phản loạn của tỉnh Quảng Tây, tự xưng là con cháu nhà Lư, mang hàng vạn quân tràn sang biên cảnh, cấu kết với giặc Cờ Vàng cướp phá và chiếm cứ đất đai. Quân triều đ́nh đánh không lại, vua quan phải kêu gọi Pháp trợ giúp chiếu theo hiệp ước 15-3-1874, nhưng đề đốc Lafont, thống đốc Nam Kỳ có vẻ lơ là, chỉ cho tăng cường số quân bảo vệ các ṭa lănh sự Pháp. Triều đ́nh, chiếu theo tiền lệ, nhờ tổng đốc Quảng Tây phái đề đốc Phùng Tử Tài đem quân qua hợp cùng với quan quân của Hoàng Kế Viêm và Lưu Vĩnh Phúc tiễu trừ giặc họ Lư. Gần cuối năm 1879, Lư Dương Tài bị bắt giải về Tàu, và vụ loạn được dẹp yên. ( ĐNTL, XXXIV, 163-5, 170-4, 177-180, 181-2, 188-194, 219-220, 235-6, 238, 239-248, 269-270, 285-6); Fourniau, Vietnam, 291-4) Sự can thiệp hiệu quả của Trung quốc, cũng như mối liên lạc thân thiện giữa Trung Hoa và Việt Nam, làm cho phía Pháp lo ngại rằng Bắc Kỳ có thể thoát khỏi bàn tay của ḿnh, rơi vào tay Tàu hay một cường quốc khác, nhứt là Anh quốc đang núp bóng sau lưng Trung Hoa. Thật vậy, lâu nay người Anh vẫn phản đối việc các hiệp ước 1874 giao quyền xét xử người Âu cho lănh sự Pháp, và dành đặc miễn thuế khóa cho hàng hóa nhập cảng từ Nam Kỳ vào các hải cảng Đại Nam, v́ các hiệp ước đó không phải là hiệp ước bảo hộ. Người Pháp càng thêm lo lắng v́ Triều đ́nh Huế vừa kư với nước Y Pha Nho một hiệp ước thương măi, cho phép nước này đặt lănh sự ở các hải cảng được mở theo các hiệp ước kư với Pháp, và giao quyền xét xử các kiều dân Y ở đó cho các lănh sự Y, hạn chế bớt quyền hạn của lănh sự Pháp. (Fourniau, Vietnam, 298-301) Nhận thấy không thể làm áp lực được với vua quan ở Huế để biến đổi Hiêp ước 15-3-1874 thành môt hiệp ước bảo hộ, phe Pháp thực dân t́m cách dùng biện pháp quân sự để ép buôc triều đ́nh phải kư một hiệp ước bảo hộ thật sự, hầu bảo đảm rằng toàn thể nước Việt Nam nằm chắc trong tay Pháp.

Vào đầu năm 1882, Thống đốc Nam Kỳ Le Myre de Vilers gởi Đại tá Henri Rivière ra Hà Nội cùng 3 đại đội thủy quân lục chiến, với danh nghĩa là để chống lại quân Cờ Đen, nhưng thật sự là để thị uy với vua quan ở Huế hầu áp đặt nền bảo hộ. (Fourniau, Vietnam, 301-7) Rivière bị ảnh hưởng của các giới chức Pháp ở Hà Nội, như Lănh sự Kergaradec, và giới Công giáo của Đức Cha Puginier, đă vượt quá chỉ thị của de Vilers, tự ư chiếm thành Hà Nội, khiến Tổng đốc Hoàng Diệu phải treo cổ, rồi điều đ́nh để trả lại thành cho một quan chức thân Pháp hơn. (Fourniau, Vietnam, 307-311) Nhận thấy sự nhẫn nhịn không c̣n hiệu nghiệm trước dă tâm quá lộ liễu của phía Pháp, vua Tự Đức ra lệnh cho quân đội sẵn sàng chống trả mọi cuộc tấn công của quân Pháp. Đồng thời, với danh nghĩa là một chư hầu nằm trong quỹ đạo 'nội hạ ngoại di' của Thiên tử Trung quốc, Tự Đức đă gởi thơ cho vua Tàu xin viện trợ 20.000 quân để đánh đuổi quân Pháp, và được vua Tàu thân hành trả lời chấp thuận giúp đỡ. (Bản sao gởi sứ thần do thơ ngày 5-12-1882, MAE Personnel, 2è série, no. 60, dossier Bourée, do Fourniau dẫn, Vietnam, 312; "M. Rheinart ", BAVH số 1 & 2, 1943, 124-5) Sợ chiến tranh xảy ra giữa Pháp và Tàu, Đại lư Đại sứ Pháp tại Bắc Kinh là Bourée t́m cách điều đ́nh với Tổng lư nha môn Lư Hồng Chương chia Bắc Kỳ ra thành 2 vùng, vùng tả ngạn sông Hồng đặt dưới sự bảo trợ của Tàu gọi là 'Bắc Kỳ mỏ', và vùng hữu ngạn do Pháp bảo trợ, gọi là 'Bắc Kỳ gạo'. Tin này tung ra làm cho giới tư bản Pháp lo sợ hầm mỏ rơi vào tay người Tàu, mà sau lưng là người Anh. Nhóm Dupuis, Roque bèn vận động cho Rivière chiếm Ḥn Gay ngày 12-3-1883 để nắm phần chắc. (Fourniau, Vietnam, 314-5, 321-2) Nhận được viện binh, Rivière đánh chiếm luôn Nam Định ngày 27-3-1883. Quân Việt và quân Cờ Đen phản công kịch liệt, làm cho Pháp chết và bị thương khá nhiều, rồi đánh phá các khu nhượng địa Pháp, giáo phận, và phố Tàu ở Hà Nội. Từ tháng 3 năm 1883, t́nh h́nh toàn thể xứ Bắc trở nên sôi sục, hai bên Pháp Việt đều ở trong t́nh trạng thế thủ, sẵn sàng đánh nhau bất cứ lúc nào. (Fourniau, Vietnam, 322-4) Ở Huế, t́nh h́nh trở nên quá căng thẳng, Rheinart đóng cửa sứ quán, và vào Sài G̣n ngày 30-3-1883, rồi về Pháp. (" M. Rheinart ..." BAVH, Ibid., 138-142) Ngày 19-5-1883, Rivière chết vào tay Lưu Vĩnh Phúc trong một trường hợp tương tợ như Garnier trước kia. (Fourniau, Vietnam, 324-6)

E. Nguyễn Văn Tường và sứ mạng chống Pháp do Tự Đức ủy thác

Trong t́nh trạng khẩn trương đó, vua Tự Đức mất ngày 19-7-1883. Trước đó 2 ngày, vua

"tuyên triệu Cơ mật viên đại thần là Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết vào hầu, vua ở trong cung, chính tay phê vào tờ di chiếu cho hoàng trưởng tử Thụy quốc công nối ngôi vua." (ĐNTL, XXXV, 198) Trong di chiếu có nói:

"... Bọn Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết cùng ta gặp biết, tuy có sớm muộn hơi khác, mà ḷng trung thành yêu mến chăm lo như một, từng làm việc nơi cơ yếu đă lâu, thân được chỉ bảo, nếu có gặp việc khó khăn cũng chỉ bảo được. Vậy cho Trần Tiễn Thành sung làm phụ chính đại thần, Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết sung cùng là phụ chính đại thần. Bọn ngươi nên nghiêm sắc mặt đứng ở triều đ́nh, giữ ḿnh đứng đắn, đốc suất quan thuộc, mọi việc cùng ḷng làm cho thỏa đáng, trên giúp vua nối ngôi điều không biết đến, dưới chữa chỗ lệch lạc cho các quan, để nhà nước yên như núi Thái Sơn, thế là không phụ sự ủy thác..." (Ibid., 200; NQT nhấn mạnh) Và vua kết luân di chiếu: "Trẫm có tội với tổ tiên, không dám thờ vào Thế miếu...Trẫm không có công to, không được xưng là tổ..." (Ibid., 202). Về công cuộc chống Pháp của vua, chính sử đă tóm lược rất khéo [v́ sử được soạn dưới thời Pháp thuộc] đủ để nói lên cái sách lược của Câu Tiển ở Cối kê, nhưng giữa đường th́ vua đă mất:

"Từ khi người Pháp đến, ...nước nghèo về việc quân, ...phải đánh giặc luôn... Đến lúc ḥa nghị thành, liền mất đất Nam Kỳ, ... thường nói rằng: bờ cơi cũ chưa lấy lại được, ngày sau Trẫm không dám vào Thế miếu, thương xót lộ ra lời nói đến như thế, cho nên đặt nha sơn pḥng, nha hải pḥng, đặt nha doanh điền, đặt sở đồn điền, lại đặt ty B́nh Chuẩn, mở thương chính, sốt sắng muốn cho nước giàu mạnh,..." (Ibid., 204; NQT nhấn mạnh).

Vua Tự Đức mất đi ủy lại cho NVT và các phụ chính một sứ mạng quá to tát, phức tạp, và khó khăn. Là một kẻ sĩ dấn thân v́ vua v́ nước, NVT, như ta sẽ thấy, luôn luôn đem hết tâm huyết và khả năng ra thi hành cái nhiệm vụ nặng nề đó: pḥ vua kế nghiệp, áp dụng kế sách chống xâm lăng Pháp để ǵn giữ nước nhà và cơ nghiệp nhà Nguyễn. Lúc sinh tiền, vua đă hết ḷng tin dùng và nghe theo hầu hết những ǵ NVT tâu tŕnh lên, nhứt là sau khi kế sách chống Pháp dài hạn do NVT đề nghị trong bản tấu năm 1868 [18-3 Tự Đức 21] đă được áp dụng khá hiệu nghiệm trong thực tế với các hiệp ước do NVT kư năm 1874, và việc Pháp trao trả lại các tỉnh Bắc Kỳ. Vua đă khen ngợi thành quả của kế sách đó và ban tặng NVT 'Bài kư Thuyền Ngũ lợi' kết luận rằng Trang Tử nước Ngụy ḥa với Nhung Địch có 5 điều lợi. (ĐNTL, XXXIII, 347) Ngoài ra, theo GS Trần Viết Ngạc, "Có thể nói mối quan hệ giữa vua Tự Đức và đại thần Nguyễn Văn Tường là mối quan hệ tri kỷ." ( "T́m hiểu thêm về Nguyễn Văn Tường", HTNVTHUE02, 12). Thật vậy, sau khi mổ xẻ một số bản tấu nghị của NVT và lời phê của vua Tự Đức trên đó, GS Ngạc nhận xét rằng

" Quan hệ giữa vua Tự Đức - Nguyễn Văn Tường, trên thực tế vượt xa quan hệ Vua - Tôi. Vua Tự Đức rất tin dùng Nguyễn Văn Tường, có thể bàn với Nguyễn Văn Tường mọi băn khoăn, mọi suy nghĩ của ḿnh. Ngược lại, Nguyễn Văn Tường có thể nói thẳng với nhà Vua những ư nghĩ của ḿnh về việc và về người liên hệ đến vận mệnh đất nước mà không ngại Vua sẽ bắt lỗi bất kính, là phạm thượng. Vua gọi cuộc gặp gỡ ấy là tri ngộ, tôi gọi đó là hạnh ngộ." (Ibid., 11)

Tấm ḷng của một sĩ phu dấn thân v́ đại cuộc cũng đă được biểu lộ qua các lời tấu của NVT như " Thần tuy hèn kém đâu dám tiếc cái sống thừa " khi c̣n giữ một chức phận nhỏ nhoi mà đề nghi kế sách 'ḥa để mưu chiến' (bản tấu 8-3 Tự Đức 21 nói trên), hay "Nếu gặp lúc quan hệ, thần không dám làm kẻ bên lề mà ngồi xem thành bại " (Bản tấu 1-11 Tự Đức 27, 1874). Chính sử đă khẳng định rằng vua Tự Đức là một ông vua chống Pháp, lúc chủ ḥa lúc chủ chiến tùy theo thời cơ, chớ không bao giờ có ư nghĩ đầu hàng, làm nô lệ cho Pháp. Do đó, cái sứ mạng giao phó cho các phụ chính cố mạng lương thần là một sứ mạng pḥ vua mới, tiếp tục công cuộc chống Pháp, giữ nước, của tiên vương. Là người tín cẩn nhất của vua, đă từng đề nghị lên vua và cùng vua thực hiện cái kế sách sâu kín, nhẫn nhục chống Pháp, NVT, hơn ai hết, ư thức cái trách nhiệm lớn lao do vua ủy thác, và sẽ đem hết tâm huyết thi hành cái nhiệm vụ đó cho đến hơi thở cuối cùng. Sự thông cảm tấm ḷng đó của NVT, và hiểu biết kế sách ' ḥa để mưu chiến' thầm kín của ông, sẽ giúp soi sáng được tất cả những hành vi của ông, mà lịch sử thực dân đă suy diễn, xuyên tạc, bóp méo, nhào nặn theo muôn ngàn chiều hướng tiêu cực, v́ mục đích chính trị. Trong t́nh trạng khẩn trương này, đối với các ông phụ chính, việc lựa chọn một ông vua kế nghiệp chống Pháp để tiếp tục công cuộc giữ nước của vua Tự Đức là điều kiện quan trọng nhất.

II. Nguyễn Văn Tường và việc chống Pháp sau Triều Tự Đức

A. Sự thoái hóa của công cuộc chống Pháp

Rất tiếc là vua Dục Đức đă không thỏa măn các điều kiện đó, như các tác giả cuốn Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả của Hội đồng trị sự Nguyễn Phúc Tộc, [nhà Xuất bản Thuận Hóa, Huế, 1995] đă nóí: "Trước đây ngài vốn có giao thiệp qua lại với người Pháp, từ năm Tân tị [1881] ngài đă từng chuyển giao nhiều tài liệu quan trọng về việc nước cho trú sứ Pháp là Rheinart... .Tôn thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường vốn nắm mọi quyền hành trong nước sợ tai họa khi ngài lên nối ngôi nên thừa dịp này âm mưu việc phế lập. ..." (t.371; NQT nhấn mạnh). (Về tài liệu xác nhận sự kiện này, xin xem: D.A.O.M. Gouv. Gén. Indo., dossier 9574, do Nguyễn Thế Anh viện dẫn, Monarchie et fait colonial au Viet-Nam . Paris, l'Harmattan, t. 58, ct. 4; Thơ Rheinart gởi Le Myre 14-5-1882, Livre Jaune, pièce 119, annexe II, do Fourniau dẫn, Vietnam, 310; Trần Trọng Kim, Viêt Nam Sử Lược, 233). Một điều đáng lưu ư ở đây là vua Dục Đức không chết ngay sau khi bị truất phế, như nhiều sử sách đă nói để mạt sát hai ông phụ chính là tàn nhẫn, mà chỉ bị quản thúc cùng gia đ́nh trong hoàng thành, rồi gần một năm sau, phải dời ra giam tại nhà lao Thừa phủ cho an ninh hơn, v́ lúc này Rheinart đă trở lại làm khâm sứ tại Huế. Rheinart là người đă từng liên lạc mật với vua Dục Đức, lúc ngài c̣n là Hoàng tử trưởng; và cũng là người mới vừa dùng vơ lực để ép buộc triều đ́nh đưa Gia hưng Vương lên thay vua Hàm Nghi, nhưng không thành. Có lẽ triều đ́nh sợ Rheinart âm mưu đưa vua Dục Đức lên ngôi lại, nên phải dời riêng ngài ra nhà giam Thừa phụ cho chắc hơn, và rồi vua mất ở đó trong một trường hợp mờ ám, mà chính sử nghi là do bàn tay của hai ông phụ chính.

Về việc vua Hiệp Ḥa, cái lư do ngài bị truất phế sau 3 tháng tại vị cũng là v́ muốn theo Pháp. Cuốn Thế Phả nói trên viết:

" Bấy giờ vấn đề giao thiệp với Pháp là quan trọng nhất, ư kiến của ngài và một số hoàng thân trái ngược với ư kiến của hai phụ chính ông Tường và ông Thuyết, ngài muốn để Pháp bảo hộ cho yên , nên ủy thác cho Tuy Lư Vương thay ngài trực tiếp giao thiệp với đại diện Pháp ở Huế, điều này làm ông Thuyết lo sợ và bất b́nh. [ ] Thấy hai viên phụ chính coi thường nhà vua nên hai Hoàng Thân ... Hồng Ph́ và ... Hồng Sâm ... bàn với ngài t́m cách giết đi, bằng cách mượn tay quân Pháp để trừ ông Tường và ông Thuyết. Hồng Sâm lănh sứ mạng đi điều đ́nh với Khâm sứ De Champeaux và đồng ư ngày giờ để thủy quân Pháp tấn công bộ Binh bắt Tôn Thất Thuyết . Việc này chẳng may bị tiết lộ. Liền sau đó ngài tiếp kiến với De Champeaux tại Văn Minh điện do Tuy Lư Vương hướng dẫn làm Tường Thuyết tức giận và lo sợ mất quyền mà c̣n bị hại, nên ngày 30 tháng 10 hai ông họp các quan lấy sớ tâu lên Lưỡng Cung buộc phải phế ngài. Trong sớ buộc tội ngài tư thông ngoại quốc, dung dưỡng bọn phản quốc ... ngài phải viết chiếu thoái vị, định quay về tư dinh th́ bị Ông Ích Khiêm và Trương Văn Để theo lệnh Thuyết đón ngoài cửa Hiển Nhân bắt ngài đem giam ở Dục Đức Đường. Sau đó họ ép ông phải uống thuốc độc mà mất. Ông Thuyết muốn hại ngài gấp v́ sợ người Pháp biết mà can thiệp." (Ibid., 366, NQT nhấn mạnh; Xin xem thêm: ĐNTL, XXXV , 255-260; CAOM [Aix], c.16,A-30[58] do Vũ Ngự Chiêu dẫn, Các vua cuối nhà Nguyễn 1883-1945 , T. 1, 336, ct. 49; A.E., Mém. & Doc., Asie , vol. 40, fo 14-15, do Anh dẫn, op. cit. , 73, ct. 41).

Việc truất phế vua Hiệp Ḥa xảy ra sau khi cửa Thuận bị hạm đội của đề đốc Courbet oanh tạc dữ dội, rồi một hiệp ước bảo hộ được kư kết ngày 25-8-1883 giữa Trần Đ́nh Túc và Nguyễn Trọng Hợp và Tổng Trú Sứ Harmand. Theo hiệp ước này, Việt Nam phải công nhận quyền bảo hộ của nước Pháp với tất cả những hậu quả về phương diện luật lệ ngoại giao Tây phương, như giao hẳn quyền ngoại giao cho Pháp hành xử thay cho ḿnh. Mặc dầu hiệp ước không hề được hai bên phê chuẩn, và sẽ được thay thế bằng hiệp ước Patenôtre ngày 6-6-1884, nó cũng có những hậu quả thực tế tức th́ do bên thắng trận áp đặt, như quân Pháp chiếm đóng vĩnh viễn cửa Thuận An, De Champeaux trở lại làm Khâm sứ với quyền diện kiến vua bất kỳ lúc nào y muốn. Ngoài ra, theo hiệp ước này, triều đ́nh phải: triệu hồi quân đội đă gởi ra Bắc về, và đặt Bắc Kỳ vào t́nh trạng ḥa b́nh; ra lệnh cho quan lại trở về nhiệm sở, và bổ viên chức mới ở những chỗ khuyết, và lâm thời thỏa thuận với Pháp để hợp thức hóa những quan viên do Pháp đă bổ nhiệm. Khi thi hành hiệp ước, người Pháp đă ức hiếp và hạ nhục các quan ta mà vua không bênh vực được, gây không biết bao uất hận đối với thỏa hiệp cầu ḥa. Do đó, thành phần các quan lại chống Pháp, tham gia vào cuộc chính biến lật đổ vua Hiệp Ḥa, khá đông đảo. ( ĐNTL, XXXVI, 35-37)

B. Phe chống Pháp quật khởi: ‘Trung lập’ để mưu chiến

Vua Kiến Phúc lên ngôi thay vua Hiệp Ḥa mới có 15 tuổi, là hoàng tử thứ 3 được vua Tự Đức đặt kỳ vọng vào nhiều nhứt trong 3 người con nuôi, nhưng v́ c̣n trẻ quá nên không được chỉ định kế vị. ( Thế Phả , 383; ĐNTL, XXXV , 198) Hai ông phụ chính đă giúp vua gây lại niềm tin ở chế độ, cải tiến guồng máy hành chánh, thu dụng nhân tài, bổ dụng những thành phần có ḷng trung quân ái quốc, chống Pháp, vào những chức vụ then chốt, như Phạm Thận Duật, đă từng đánh giặc với hai ông ở ngoài Bắc, làm phụ chính thứ 3 kiêm sung Cơ mật viện đại thần. Vào đầu 1884, ông Duật thay NVT làm thượng thư bộ hộ, kiêm sung tham tri bộ Công để dễ dàng chuyên trách việc xây dựng và củng cố căn cứ Tân Sở. NVT đổi qua bộ Lại để lo: đông viên nhân tài ra giúp nước bằng cách 'triệu dụng các tiến sĩ phó bảng tại quán và các ấn quan tại quán.' (ĐNTL, XXXVI, 81); bổ nhiệm các quan lại lớn nhứt và có nhiều thành tích nhứt vào các chức vị ở các sơn pḥng gần quê hương ḿnh, như Vơ Trọng B́nh làm thương biện tỉnh vụ Nghệ An, Nguyễn Chính sung làm sơn pḥng sứ Hà Tĩnh, Nguyễn Trọng Hơp sung làm phó sơn pḥng sứ Thanh Hóa,...Trần Văn Chuẫn làm dinh điền sứ Quảng B́nh (Ibid., 81) để chuẩn bị cuộc kháng chiến lâu dài. Mặc dầu hiệp ước Harmand đă đưa quốc gia vào một t́nh trạng hầu như là tuyệt vọng, triều đ́nh đă cố gắng hết ḿnh để ǵn giữ chủ quyền bằng cách 'châm chước thời cơ', đi với Tàu để chống hay kèm Pháp, như NVT đă từng đề nghị với vua Tự Đức: "Xem khắp Đông phương, đất rộng dân đông không nước nào bằng nước Thanh, thế của họ có thể làm được; nghe họ tạo thuyền, đúc máy, học kỹ nghệ, luyện quân binh; chí của họ cũng không cam chịu khuất phục lâu ngày, th́ việc trừ bạo rửa nhục tưởng nên đợi đến lúc Đại Thanh xướng lên mà các nước ứng theo, th́ mới hoàn tất ..." (Bản tấu ngày 10-8 Tự Đức 26, 1873). Để giảm bớt áp lực của Pháp, NVT đă một mặt áp dụng chánh sách trung lập giữa Tàu và Tây, một mặt vẫn lơ là để cho các quan lại ở Bắc hợp tác ngầm với Tàu để đánh Pháp. Thật vậy, theo chính sử th́ lúc đó

"Quan Viện Cơ mật cho rằng nước ta ở giữa hai nước lớn, đối với nhà Thanh là kẻ phiên phục ngàn năm, theo nghĩa không nên đoạn tuyệt. Mà đối với nước Pháp th́ lại là nước xa lửa gần, thế buộc không thể đừng được, chi bằng cứ đứng trung lập, đợi hai nước hành động thôi" (ĐNTL, XXXVI , 40)

Song cái thế trung lập chính thức đó, dùng để tỏ cho phía Pháp là ḿnh đă tuân thủ hiệp ước 1883 để tồn tại, đă không ngăn cấm quan lại ở Bắc liên kết với quân Tàu để đánh Pháp bằng cách từ chức, lănh bằng sắc của Tàu, hay đánh rồi lẩn trốn vào các sơn pḥng, dưới sự che chở ngầm của các đồng nghiệp. Pháp cũng cảm thấy hiệp ước Harmand, v́ áp bức quá độ, đă là nguyên nhân của cuộc lật đổ Hiệp Ḥa, và đă xô đẫy các quan Việt về phe với Tàu để đánh Pháp, nên triệu hồi Harmand không lâu sau đó, đồng thời thoa dịu triều đ́nh bằng cách áp dụng hiệp ước một cách mềm dẽo, và hứa sẽ sửa đổi cho nó bớt khắt khe, khi sứ thần Tricou ghé qua Huế trên đường đi Bắc Kinh. Từ trước, de Champeaux đă tuyên bố không thừa nhận vua Kiến Phúc, v́ đă lên ngôi không có sự đồng ư của Pháp là nước bảo hộ. Nay Tricou qua cần diện kiến để xin vua kư một văn kiện chịu tạm chấp nhận hiệp ước cho đến khi Tổng thống Pháp xét lại, nên nhân đó thừa nhận vua Kiến Phúc là vua nước Đại Nam. Triều đ́nh cũng bênh vực các quan chống Pháp ở Bắc rất hữu hiệu. Khi De Champeaux đ̣i hỏi Viêt Nam phải công khai cách chức một số rất đông các quan lại ở Bắc Kỳ đă tiếp sức với quân Tàu đánh Pháp, triều đ́nh đă bác bỏ đ̣i hỏi đó và thẳng thắn trả lời rằng nước chúng tôi

"với nước Thanh vốn có t́nh giao hảo cũ, gần đây quân lính của họ sang đóng, các quan tỉnh Sơn, Bắc cũng khó ngăn giữ. Hai viên tỉnh thần ở đó như Đ́nh Nhuận, Quang Đảng là quan giữ đất, không phải v́ thông đồng với quân Thanh mà đặt ra. Tá Viêm sau lần giảng ḥa ấy cũng đă triệt thoái về tỉnh Sơn ... nguyên không phải là trái lệnh triều đ́nh. Nay nếu đem 2 viên quan đó kết tội là trái mệnh triều đ́nh và yết cáo cách chức th́ thật là phi lư trái t́nh ... ư quan khâm sứ cũng ưng thuận ..." (ĐNTL, XXXVI , 41-2)

Sau khi quân Tàu, quân Cờ Đen, và quân của Hoàng Kế Viêm thua Pháp ở các trận Sơn Tây, Bắc Ninh và Hưng Hóa từ 11/1883 đến 4/1884, Tàu và Pháp kư Thỏa hiệp Thiên Tân ngày 11-5-1884, theo đó Tàu bằng ḷng rút lui khỏi Bắc Kỳ. Ngay sau đó, Patenôtre ghé Huế, trên đường đi Bắc Kinh nhận chức sứ thần ở Trung Hoa, để kư với triều đ́nh một hiệp ước mới, thay thế hiệp ước Harmand được xem như quá khắt khe. Hiệp ước được kư ngày 6-6-1884 và thường được kêu là Hiệp ước Patenôtre, là một văn kiện làm sẳn bên Pháp rồi, có đỡ hơn Hiệp ước Harmand, nhưng tựu trung cũng là một hiệp ước bảo hộ. NVT t́m cách đổi chữ 'bảo hộ' thành chữ 'bảo trợ', nhưng vô hiệu, nhứt là lúc này Việt Nam đă mất hậu thuẫn của Tàu sau khi thỏa hiệp Thiên Tân được kư. Dù sao, NVT cũng 'châm chước thời cơ ' dùng kế gây mâu thuẫn giữa Tây và Tàu trở lại: NVT chỉ bằng ḷng thủ tiêu công khai cái ấn của vua Tàu ban cho Vua Gia long, bằng cách thụt lữa cho chảy ngay trước mặt mọi người trước khi kư hiệp ước , chớ nhất định không chịu để cho Patenôtre gởi về Pháp, giữ kín rồi về sau cất vào viện bảo tàng, như Patenôtre đă khẩn khoản yêu cầu nhiều lần. (Jules Patenôtre, Souvenirs d'un diplomate. Paris Librairie Ambert, s.d., 106-110) Việc Patenôtre bắt phía Việt long trọng trao chiếc ấn rồi đưa thiêu hủy công khai chiếc ấn, do hảng thông tấn Pháp Havas truyền đi, đă làm nhục nước Tàu đến độ khiến Tàu xé bỏ Thỏa hiêp Thiên Tân và kéo dài cuộc chiến một cách dữ dội với Pháp trong một năm nữa. Nhờ đó Việt Nam kéo dài thêm được t́nh trạng 'trung lập' của ḿnh. Tàu lại càng giận Pháp hơn nữa, v́ trong thỏa hiệp Thiên Tân mới vừa kư trước đó, Pháp đă cam kết không làm điều ǵ chạm đến uy tín của nước Tàu trong các hiệp ước sẽ kư với Việt Nam.

Thật vậy, hơn hai tuần sau khi Hiệp ước Patenôtre được kư, th́ trận chiến Bắc Lệ, Lạng Sơn xảy ra trong đó Pháp thiệt hại nặng, rồi đến các trân đánh lớn ở Phúc Châu, Đài loan kéo dài cho đến ngày Hiệp ước Thiên Tân thiệt thọ được kư ngày 9-6-1885. (Fourniau, Vietnam , 334-346) Người ta thường cho rằng vụ Bắc Lệ xảy ra là do sự hiểu lầm giữa quân đội Tàu và Pháp tại địa phương, nhưng trong khi đánh lớn với Pháp, Tổng lư Nha môn đă gởi một bức thư luân lưu cho các đại diện ngoại quốc ở Bắc Kinh xác nhận vụ chiếc ấn là nguyên nhân cuộc tái chiến giữa Pháp và Tàu:

" Nước Tàu không c̣n ǵ để nhượng bộ nữa; nước chúng tôi chỉ c̣n cách kêu gọi sự trọng tài của mọi nước, và phản đối việc tấn công các hải cảng của chúng tôi mà không tuyên chiến. Chính nước Pháp đă xé bỏ thỏa hiệp Thiên Tân bằng cách buộc vua nước An Nam phải giao lại cái ấn và và sắc phong do vua Tàu ban." ("M. Rheinart" BAVH, số 1 & 2,1943, 226; NQT dịch và nhấn mạnh; Gosselin, op. cit., 13).

 

 

***"Việt nam quốc vương chi ấn" do vua Tàu ban cấp cho vua Việt Nam,Gia Long năm 1803. Sự thụt chảy công khai chiếc ấn ngay trước khi kư Hiệp ước Bảo hộ Patenôtre, 1884, do mưu của Nguyễn Văn Tường, đă lăng nhục Trung quốc và là nguyên nhân sự tái tục chiến tranh giữa Pháp và Tàu. (H́nh lấy từ Jules Patenôtre, Souvenirs d'un diplomate, Tome second. Paris, Ambert, 1913-14, trang b́a)

Bàn về vai tṛ của NVT trong việc này, Silvestre, giám đốc chính trị và hành chánh của chính quyền Pháp ở Bắc Kỳ, một người chủ trương thủ tiêu 2 ông phu chính Tường và Thuyết, đă kể rằng sau khi NVT

"vẽ xong chữ kư [trên Hiệp ước 6-6-1884, NQT ct.], ông quay sang ông Patenôtre và vừa nói vừa mỉm cười: 'Đây là một chữ kư mà tôi chú tâm đến nhiều và chữ kư sẽ có giá trị lâu bền'. Cái ǵ lâu bền, thật ra, và không thay đổi tí nào, là sự thông đồng với nước Tàu và sự tiếp diễn các âm mưu của ông đệ nhứt phụ chính và các viên chức của ông." (Ibid., 230, NQT dịch và nhấn mạnh)

C. Xúc tiến phong trào Cần Vương

Ngày 31-7-1884, vua Kiến Phúc mất v́ bệnh, sau 8 tháng tại vị. Hoàng Thái Phi, mẹ nuôi của Vua, triệu tập Tôn nhơn đ́nh thần, truyền bảo Vua di chúc rằng: "Hoàng đế đức mỏng, có em là Ưng Lịch, có học có hạnh, hoàng đế như có mất đi, truyền bảo tôn nhân phụ chính nên lấy Ưng Lịch vào nối ngôi lớn ..." (ĐNTL, XXXVI , 151-2). Sau khi các 'Tôn nhân phủ văn vơ đ́nh thần ' đồng thuận, họ 'bèn hợp từ tâu lên Từ Dụ thái hoàng thái hậu, hoàng thái hâu rước công tử Ưng Lịch ... vào nhà tang xưng là tự quân ...' (ĐNTL, XXXVI , 151) sau thành vua Hàm Nghi. Việc vua Hàm Nghi lên ngôi, theo chính sử của nhà Nguyễn là như vậy, mà sử sách ta, bị ảnh hưởng của chiến dịch tuyên truyền của thực dân, cho đến nay vẫn cho rằng '... Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường lập ngài lên nối ngôi v́ thấy ngài nhỏ tuổi dễ thao túng dưới sự phụ chính của họ.' (Thế Phả, 387) Vua Hàm Nghi sinh ngày 3-8-1871 lúc lên ngôi là khoảng đầu tháng 8, 1884, tức đă được 13 năm tṛn, tức 13 tuổi Tây và 14 tuổi ta. Sách Pháp có cuốn nói đúng, có cuốn nói hạ xuống 12 tuổi để nhấn mạnh thêm vào dụng ư chuyên quyền của hai ông phụ chính. Sử gia Trần Trọng Kim (Viêt Nam Sử Lược , 224), Phạm Văn Sơn ( Việt Sử Toàn Thư. Saigon: Khai Trí, 1960 , 465) đều nói rằng Vua Hàm Nghi lên ngôi lúc 12 tuổi, rồi độc giả Việt đọc lại hiểu thành 11 tuổi Tây, tức bớt thêm một tuổi nữa, càng dễ cho hai ông Tường Thuyết chi phối hơn nữa!

Đó là chưa nói đến các tin đồn khác do thực dân tung ra nhân dịp này, như: NVT tư thông với Hoàng Thái Phi bị vua Kiến Phúc bắt gặp, nên bỏ thuốc độc giao bà Thái Phi cho vua uống, rồi ngày mai lại vua chết. Hơn nữa, không biết bao nhiêu nghi vấn khác được nêu ra với ác ư xuyên tạc, bôi lọ, như NVT và Tôn Thất Thuyết đă: "đồng ư giết vua Kiến Phúc để tôn một vị vua nhỏ tuổi hơn, mong nắm trọn quyền bính.", hay đă: " cho rằng hoà ước Giáp Thân quan lại ta nhân danh vua Kiến Phúc để kư với Pháp mà nay vua không c̣n th́ ḥa ước sẽ mất hết hiệu lực." (Thế Phả , 384) Những lời tố cáo này, cọng với không biết bao nhiêu tin tức khác, như NVT đă bị cách chức v́ bị dân kiện lúc làm phủ doăn Thừa Thiên, NVT ăn hối lộ của nhà buôn Tàu, v.v. đều là tin bịa đặt, do phe thực dân dựng lên để triệt hạ uy tín của một kẻ thù không đội trời chung của họ. Các câu chuyện bôi lọ đó sẽ được bàn trong một dịp khác, với đầy đủ sử liệu và chi tiết. Bài này chỉ nói qua là việc chọn vua Hàm nghi lên ngôi, cho dù là do hai ông phụ chính chuyên quyền đưa lên đi nữa, th́ cũng chỉ dựa vào môt tiêu chuẩn tiên quyết là chống lại sự xâm lăng của Pháp và bảo toàn quyền lợi quốc gia và triều đại. Tư cách bất khuất của vua Hàm Nghi, trong suốt cuộc đời tranh đấu nơi rừng sâu núi thẳm rồi lưu đày ở xứ người của ngài, đă chứng minh tính cách đúng đắn của sự lựa chọn đó. Nếu NVT lo cho quyền lợi vị kỷ của ḿnh th́ có thể đă vận động đưa Hoàng Tử Chánh Mông [Vua Đồng Khánh] lên rồi, v́ ông này, cũng như vua Kiến Phúc, là em ruột cùng một mẹ với bà Công Tôn Nữ Như Khuê, vợ của ông Nguyễn Văn Tộ, con thứ tư của NVT; c̣n vua Hàm Nghi ch́ là em khác mẹ của các người này. Rồi NVT cùng với vua Đồng Khánh đi theo với Pháp th́ ổn biết mấy cho cá nhân và gia đ́nh NVT! Tại sao lại phải rắc rối đưa vua Hàm Nghi lên để rồi đi lưu đày ở Côn Đảo và Tahiti, rồi bỏ thân nơi xứ người? Thật vậy, chiến dịch bôi lọ của thực dân đă có ảnh hưởng quá độc hại đến tư cách của NVT, đă biến cải một nhân vật lịch sử trung quân, ái quốc và đầy ḷng tận tụy hy sinh cho đại cuộc như ông thành một tên phản trắc, gian nịnh, và vị kỷ, gây một ấn tượng rất xấu về ông trong đầu óc các sử gia Pháp và Việt, làm cho họ phê phán quá sai lầm về con người và hành động của ông, măi cho đến ngày nay.

Trở lại vấn đề vua Hàm Nghi lên ngôi, th́ quả nhiên Khâm sứ Pháp Rheinart phản đối ngay và đ̣i hỏi triều đ́nh phải đ́nh chỉ việc tấn tôn, hoặc truất phế vua Hàm Nghi. Nếu muốn yên th́ đưa lá bài soạn sẳn của y là Gia Hưng Vương, phụ chính thân thần lên ngôi, v́, theo y, Gia Hưng Vương lớn tuổi và có kinh nghiệm, c̣n cả vua Kiến Phúc và Hàm Nghi đều là vị thành niên, một bên không đủ tư cách để làm di chúc, một bên không đủ tư cách để làm vua. Ngoài ra, Rheinart nhất quyết không thừa nhận vua Hàm Nghi, v́ không có sự chấp thuận của chính quyền bảo hộ. NVT và triều đ́nh cũng nhất quyết tiến hành lễ tôn vương, bất chấp lời phản kháng, hăm dọa của Khâm sứ. Rheinart, một viên chức thực dân 'hạng nặng' không chịu thua và xin thượng cấp ở Paris và Tướng Millot, Tổng chỉ huy quân đội Pháp cung cấp quân lực để buộc triều đ́nh đưa Gia Hưng Vương lên. Paris và Millot không nghe, Rheinart mất mặt gởi đơn từ chức.

Rút cục, Pháp cho Đại Tá Guerrier đem 750 quân sĩ với một dàn trọng pháo từ Bắc Kỳ vào Huế, và gởi tối hậu thư hăm dọa oanh tạc hoàng thành, nếu sau 12 giờ phía Việt Nam không chịu theo những điều kiện của phía Pháp. Cuối cùng, NVT đă thương thuyết được một giải pháp dung hoà là Gia Hưng Vương không lên thay, vua Hàm Nghi vẫn c̣n, chỉ phải tái diễn lễ tấn tôn với sự hiện diện của các viên chức Pháp, sau khi phía triều đ́nh gởi thơ qua xin lập ngài lên ngôi kế vị vua Kiến Phúc. (" M. Rheinart ", BAVH, Ibid. , 152-155) Mặc dầu mọi áp bức của Pháp, NVT và triều đ́nh vẫn nhẫn nhịn đối phó để vượt qua cơn khủng hoảng một cách khá êm thắm. Vua Hàm Nghi vẫn c̣n đó, như không có ǵ xảy ra, và chính sử đă tường thuật vụ tái tấn phong như là một cuộc triều kiến của các phái viên cao cấp Pháp mừng lễ tấn quang của vị tân vương mà thôi.

Theo chính sử th́ vua Hàm Nghi chỉ biết rơ việc này khi Gia Hưng Vương, về sau, bị Chấn Tĩnh quận công Miên Trí đàn hặc về việc 'tiết lộ quân quốc trọng sự, gia dĩ thêm thói dâm dục [cùng với công chúa Đồng Xuân can tội tước tịch, đổi theo họ mẹ là Hồ Thị Đốc thông gian sinh con] ...' (ĐNTL, XXXVI , 156) Nhân vụ xử tội này, phụ chính Thuyết và NVT mới phúc tŕnh cho vua rơ tự sự. Rheinart cương quyết can thiệp không cho triều đ́nh xét xử Gia Hưng Vương, nhưng lúc đó Lemaire đă đến thay y, NVT viện cớ đó là chuyện thường phạm thuộc chủ quyền nội bộ của Việt Nam, Pháp không có quyền can thiệp. Lemaire, một nhà ngoại giao chuyên nghiệp, hành xử chức vụ tổng trú sứ của ḿnh một cách đứng đắn chiếu theo hiệp ước 1884, đă chấp nhận quan điểm của NVT. Dù sao, mặc dầu phía Pháp đă không đưa người của họ lên ngôi, họ đă gây nên được một tiền lệ cho việc chọn vua về sau, là phải có sự chấp thuận của họ. Rồi từ đó họ lấn lần đến chỗ chọn phu chính, thượng thư cũng phải có sự đồng ư của họ, như trường hợp bổ nhiệm Vơ Trọng B́nh làm thượng thư bộ Hộ bị Lemaire phản kháng v́ ông này có thành tích chống Pháp. (ĐNTL, XXXVI , 197-8) Một trường hợp áp bức lộ liễu nữa là sự chiếm đóng Mang Cá, ngay sát kinh thành Huế, nhân việc 750 quân Pháp vào tấn phong vua Hàm Nghi, bất chấp sự phản kháng rất chính đáng và hợp pháp của NVT, rằng việc đó phải đợi ít nhất là đến sau khi hiệp ước 1884 được hai bên phê chuẩn xong đă mới thực hiện được.

Vậy là ở Kinh đô Huế bấy giờ đă có quân Pháp đóng ở Cửa Thuận An, Ṭa Khâm sứ, và Trấn B́nh Đài Mang Cá. Dĩ nhiên là triều đ́nh phải lo củng cố, chấn chỉnh các sơn pḥng ở các tỉnh tả kỳ và hữu kỳ, nghĩa là ở phía Bắc và phía Nam Kinh đô. Chính sử đă cho ta một ư niệm về công tác chuẩn bị kháng chiến chống Pháp lúc đó và sự hợp tác của ông Phan Đ́nh Phùng với triều đ́nh:

" Đắp thêm pḥng sơn pḥng ở Hà Tĩnh, nguyên trước pḥng ấy ở huyện Hương Khê, trong tiếp với Quảng B́nh, Quảng Trị, ngoài thông với Thanh Hóa Nghệ An. Thượng du lại tiếp với Xiêm La. Nhưng lúc buổi đầu đóng giữ ở đây chỉ phải có 300 người. Tự Nguyễn Chính sung làm chánh sứ và bọn phó sứ là Phan Trọng Mưu, tham biện là Phan Đ́nh Phùng , trù tính xin làm, đă tư viện thần chước định: xây đắp thành lũy, công đường tư thất và các nơi kỳ đài pháo đài, phái vệ binh 830 người chia ban đóng giữ, đặt súng gang, súng lớn 20 cỗ, súng vượt núi 50 cỗ. Phái quân thần cơ 2 đội, đổi phiên nhau phụ đóng giúp việc. Lại mộ lính Mán, tên nỏ thuốc độc để đủ sai khiến ...; mở 2 con đường ở trên: phía nam thông với sách Thanh Lăng đến sơn pḥng Quảng B́nh, phía bắc thông với huyện Thanh Chương, đến sơn pḥng Nghệ An." (ĐNTL, XXXVI , 184-5, NQT nhấn mạnh)

Trong lúc bên ta chuẩn bị pḥng thủ th́ phía Pháp lại tiếp tục lũng đoạn nội bộ triều chính, hăm dọa mua chuộc quan lại ở Bắc, như trường hợp ông Nguyễn Hữu Độ, làm quyền lư Hà-Ninh Tổng đốc mà vâng lời quan Pháp, tự cho như có quyền thay vua bổ nhiệm các quan lại cho cả xứ Bắc. ( ĐNTL, XXXVI, 210). Hơn nữa, Tướng tổng chỉ huy quân đội Pháp Brière de L'Isle lại c̣n thành lập 2 trung đoàn lính chiến người Việt ở Bắc Kỳ đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp và duy nhất của Pháp, để dùng người Việt đánh người Việt. Khi nhận được thơ của Tổng trú sứ Lemaire thông báo tin này, triều đ́nh nhận thấy phía Pháp đă đi quá xa trong việc xâm phạm chủ quyền nội bộ của ḿnh, và đă không ngần ngại phản kháng và bác khước, một cách thẳng thắn và mạnh mẽ, mọi đ̣i hỏi trợ giúp của Pháp trong việc tuyển mộ lính.

Thư trả lời cho Lemaire gởi vào khoảng tháng 6 năm 1885, mà sử Pháp hay nói là của ông Thuyết, gồm có một bức thư của Cơ mật Viện [tức viện trưởng NVT] chuyển cho Lemaire bản sao một bản tấu lên Vua tŕnh rằng: việc thành lập 2 trung đoàn lính Việt của Tướng Pháp là một hành động độc đoán thiếu căn bản pháp lư v́ Hiệp ước 1884 không có nói ǵ đến việc đó cả, nên Viện đă giao phó cho thượng thư bộ Binh trả lời cho Tổng trú sứ Pháp, để ông này yêu cầu Tướng Pháp đừng làm việc đó; và Viện thấy cần chỉ thị cho các quan tỉnh phải tuân theo hiệp ước, không được thi hành lệnh tuyển mộ của Tướng ấy. Nếu họ không nghe th́ sẽ bị tội chống lại vua và tội khi quân. Và Viện đợi chỉ của thánh thượng để thi hành. Trong thơ, Viện cũng đính kèm theo thơ đề ngày 3-4 Hàm Nghi 1 [16-5-1885] của thượng thư bộ Binh Tôn Thất Thuyết trong đó ông này, sau khi lặp lại những ư kiến của Viện Cơ mật nói trên, đă thống trách không chút dè dặt những hành vi mà ông cho là lộng quyền, áp chế, bất chấp hiệp ước của phía Pháp và Tướng tổng chỉ huy, như: Đ̣i cái ǵ cũng lấy danh nghĩa bảo hộ; Bắt bớ giam cầm các đại quan như tổng đốc, tuần phủ, bố chánh, án sát; Bổ dụng làm quan lớn những kẻ không xứng đáng chút nào, và làm những việc đó không cho triều đ́nh biết, và khi triều đ́nh can thiệp th́ không chịu nghe, coi như là chính phủ, triều đ́nh Viêt Nam không c̣n nữa; Triều đ́nh không c̣n chịu nổi sự lăng nhục và khinh miệt nên đă rút hết các quan ra khỏi Bắc Kỳ, để cho Tướng tổng chỉ huy muốn làm ǵ th́ làm, hoặc gởi thư khiếu nại lên Tổng thống Pháp; Tướng đó đă lấy từ 20.000 đến 30.000 dân phu mà nhiều người không thấy được về, nay đ̣i lấy thêm lính nữa, dân chúng Bắc Kỳ sẽ khiếp đảm và dấy loạn; Việc đánh quân Tàu là việc riêng của Pháp, không dính ǵ Việt Nam cả, nay sắp điều đ́nh với Tàu rồi, c̣n tuyển thêm lính làm ǵ nữa cho tốn tiền; Nếu Tướng tổng chỉ huy không làm nổi th́ hăy rút hết quân thủy bộ về, chỉ cần để lại một sĩ quan và 4 hay 5 công sứ cùng chúng tôi làm việc trong vài tháng mọi sự sẽ xong hết. (ASME, t. 704, t. 1424-1435 - t. 816, số 42, do Vơ Đức Hạnh dẫn, La place du Catholicisme dans les relations entre la France et le Viet-Nam de 1870 à 1886 . Berne; New York: P. Lang, 1992, 1176-1187)

Tóm lại, đó là một bức thư ngoại giao rất đặc biệt trong đó ông Tường và ông Thuyết, với lời lẽ một bên ôn ḥa, một bên quá khích, cho phía Pháp biết rằng Triều đ́nh không c̣n chịu đựng nổi cách đối xử ức hiếp của Pháp và sẵn sàng cắt đứt liên lạc ngoại giao, và chống lại Pháp bằng vơ lực. Giải thích ư nghĩa bức thư này cho Tướng De Courcy, Đức Cha Puginier đă nhấn mạnh rằng đó là của toàn thể triều đ́nh, chớ không phải riêng ǵ của ông Thuyết, và đặc biệt lưu ư De Courcy về các điểm sau: "Những công tŕnh chuẩn bị ở Cam-lộ, Trấn-ninh, để thiết lập ở đó một kinh đô mới, sự thành lập những căn cứ kín, gọi là sơn pḥng ở miệng núi, trong những vùng hiểm trở khó đến, những căn cứ ở đó họ đă tập trung một số lượng lớn bạc và gạo, tất cả những cái đó chứng tỏ rơ ràng ư muốn tối hậu của họ, chính ở những nơi đó mà họ cố gắng chống cự, khi mà sự đoạn tuyệt ngoại giao xảy ra." (Ibid., 1184; NQT dịch)

III. Vua Hàm Nghi và phong trào Cần Vương

A. Hóa giải âm mưu đảo chánh của Tướng de Courcy

Từ khoảng cuối 1884, một nhóm thực dân được các sử gia Pháp gọi là 'phe Hà Nội' [Clan de Hanoi] gồm có Tướng tổng chỉ huy quân sự Brière de L'Isle, GM Puginier, và Silvestre, mà chính sử ta gọi là 'Thượng thư bộ Lại' của phía Pháp, đă soạn thảo sẵn môt dự án thủ tiêu hai ông Tường Thuyết và vua Hàm Nghi, thay họ bằng các người thân Pháp hơn như ông Nguyễn Hữu Độ, Phan Đ́nh B́nh và Hoàng Tử Chánh Mông [vua Đồng Khánh]. Theo lời của chính Tổng trú sứ Lemaire, phe Hà Nội đă t́m cách qui trách mọi bất lợi, rắc rối, thất bại xảy ra cho phía Pháp vào lỗi của triều đ́nh Huế, từ việc lôi thôi ở Lạng Sơn cho đến Cao Miên. (Thư Lemaire gởi Freycinet, 7/4/1885. S.H.A.T. 10H3 [ex carton 3], do Fourniau dẫn, Annam-Tonkin 1885-1896, Lettrés et paysans vietnamiens face à la conquête coloniale . Paris, L'Harmattan, 1989, 29) Tướng Brière, chẳng hạn, đă buộc tội triều đ́nh thông đồng với nước Tàu bằng cách trưng ra một tài liệu bằng chữ nho, mà Lemaire xem lại chỉ là một văn kiện trưng thu gạo. (S.O.M. A0 [72] 2/1885; do Fourniau dẫn, Annam , 29, ct.31). Phe Hà Nội có một nhân viên thừa hành đắc lực ngay ở Huế là Đại Tá Pernot, chỉ huy trưởng đồn Mang Cá. Viện lư do an ninh, và sau khi gây gỗ, ông này buộc phía Việt Nam phải giải giới kinh thành, hầu dễ dàng tấn công sau này. Rồi ông cho phép quân sĩ Pháp dạo chơi chung quanh cấm thành. Không sợ bị trừng phạt, những người này đánh lính gác Việt đă ngăn cản họ, buộc những khách đi qua lại phải chào họ, nếu không họ hất liệng mũ, không cần biết trong những người này có đủ loại quan lại lớn nhỏ. (Lemaire gởi bộ Ngoại giao 9-4-1885. S.O.M. A0 [72], do Fourniau dẫn, Annam , 30). Những tṛ đùa đó không phải là không có hậu ư. Đại Tá Pernot giải thích cho thượng cấp biết rằng ' một khi thiên hạ quen thuộc với các tṛ chơi ấy, đến một thời điểm nào, tôi sẽ có thể tâp hợp độ 50 người tại chỗ các phụ chính ở, và t́m cách không cho họ trốn và thực hiện cuộc đảo chính ' (Đại tá Pernot gởi Tướng Brière de L'Isle. S.H.A.T. 10H6 [ex carton 9]; sự kế thừa Tướng De Courcy. Thư tín Pernot-Brière - 4-5/1885, do Fournier dẫn, Annam , 30) Ngoài ra, quân Pháp c̣n thực hiện các cuộc tập trận giả sát ngay kinh thành, và cho bịt ng̣i các đại bác Việt Nam đặt trên bờ thành.

Trong bầu không khí đó, Đại tướng De Courcy từ Hà Nội đến Huế, sẵn sàng thực hiện dự án đảo chánh của phe Hà Nội. Dựa vào tài liệu văn khố Pháp, Tiến Sĩ Vũ Ngự Chiêu đă tường thuật khúc chiết như sau: "... Ngày 15/6, sau khi thông báo cho Courcy về hiệp ước Thiên Tân, de Freycinet cho lệnh Courcy vào Huế càng sớm càng tốt để tŕnh ủy nhiệm thư. Trường hợp phải dùng vơ lực, đừng để triều thần Huế chạy thoát. [ct. 21: SHAT {Vincennes},10H 43] [] Ngày thứ Sáu, 26/6, trước khi lên đường vào Huế, de Courcy xin chỉ thị nên bắt Thuyết, Tường, hay cả hai. [ct. 22: Ibid. 10H21] Hôm sau, Courcy rời Hà Nội, mang theo Tiểu đoàn 1 thuộc Trung đoàn 3 Zouaves [16 sĩ quan, 870 lính] của Thiếu tá Metzinger, và một đại đội của TĐ 11 [3 sĩ quan, 154 lính]. Ngày 30/6, Courcy được lệnh toàn quyền hành động. Ngoại trưởng de Freycinet chỉ nhắc nhở Courcy nên sử dụng các quyền hạn đó một cách khôn khéo nhưng cứng rắn với các quan Việt [tức Phụ chính Tường và Thuyết]. Riêng với Hàm Nghi, cần tôn trọng bản thân nhà vua [ct. 23: Ibid. 10H 43] " (Chiêu, op. cit., t. 2, 419-420; NQT nhấn mạnh).

Lúc đó, ở Hà Nội Tướng Brière cũng đă từng nói cho tất cả những ai muốn nghe là theo ông, chỉ có một giải pháp duy nhứt là dẹp hai phụ chính hiện tại đi. (Gosselin, op. cit., 197) Chuyện đầu tiên de Courcy đ̣i hỏi là cả NVT và Tôn Thất Thuyết phải qua họp tại ṭa Khâm với y, không được thiếu người nào để bàn về việc tŕnh ủy nhiệm thư. Ông Thuyết thác bệnh, y cứ bắt phải đi. (ĐNTL, XXXVI , 219-220) Hai ông thấy t́nh thế nguy ngập, không c̣n lối thoát, nếu đi, y bắt thủ tiêu cả hai, th́ c̣n ai mà chống chọi và thực hiện cuộc di tản triều đ́nh lên Tân Sở. Cái sách lược dài hạn của NVT, ' hoà để giữ, giữ để mưu chiến' không c̣n hiệu nghiệm, v́ không c̣n giữ được nữa. Cái thời cơ dùng Tàu làm thế ỷ dốc với Tây không c̣n nữa, v́ Hiệp Ước Thiên Tân thiệt thọ mới kư ngày 9-6-1885, và De Champeaux vừa mới báo tin chính thức cho triều đ́nh. (ĐNTL, XXXVI, 215) Như NVT đă tŕnh lên Tự Đức, "Đối với rợ, không có thượng sách, chỉ châm chước theo thời cơ ' và ' không nên chấp vào cái thành thực nhỏ bé' của các cuộc kết ước (Bản tấu 8-3 Tự Đức 21 [1868]), hai ông phụ chính có thể đă thấy cần phải t́m cách điều đ́nh với Pháp để t́m một thế ḥa mới, lấy chính cái thực lực của ḿnh, tức các sơn pḥng và phong trào Cần Vương đă chuẩn bị lâu nay, làm hậu thuẫn để mặc cả với Pháp. Nhưng Pháp đă biết cái hậu thuẫn sơn pḥng này mà có đếm xỉa ǵ đến đâu. Vậy phải làm sao cho họ thấy rằng ta thực sự dùng hậu thuẫn đó, tức ta phải thực sự dời triều đ́nh lên Tân Sở để đánh Pháp trong trường kỳ.

Trong t́nh trạng hiện tại, muốn thực hiện việc này cũng hết sức phức tạp và khó khăn về phương diện quân sự, chưa kể đến chuyện làm sao cho mọi người chịu nghe theo giải pháp đó mà không lộ ra cho địch biết. Địch đă đóng quân khá nhiều ở chung quanh kinh thành từ lâu, nay c̣n đem thêm trên 1.000 quân, cùng nhiều tàu và trọng pháo, nên khi di tản rất khó mà bảo vệ được vua và Tam Cung, hoàng thân quốc thích, đ́nh thần, v.v. giữ cho họ khỏi bị địch vây bắt, chém giết. Hơn nữa, đem các ông hoàng bà chúa quen sống trong nhung lụa lên chiến khu để làm ǵ, họ chẳng làm ǵ được mà c̣n gây gánh nặng kẻ hầu người hạ. Đánh th́ hai ông, qua kinh nghiệm, dư biết là không thắng được, mà thua th́ không di tản kịp thời và an toàn được. Di tản mà không đánh cũng sẽ bị giặc vây bắt, giết chóc. Trước t́nh thế tấn thối lưỡng nan đó, hai ông đă quyết định dùng 'quyền biến', phân chia nhiệm vụ, ông Thuyết đánh, cốt để đưa Vua Hàm Nghi đi lănh đạo phong trào Cần Vương, ông Tường ở lại, dùng thế ông Thuyết để mặc cả với Pháp một thế ḥa mới. Như vậy, hai ông hy vọng hóa giải âm mưu đảo chánh của De Courcy, và đặt y trước một thế cờ mới: Vua và ông Thuyết thoát khỏi bàn tay y rồi, với cái viễn ảnh một cuộc chiến tranh du kích kéo dài triền miên không biết bao nhiêu năm; ông Tường c̣n đó, có bắt và giết ông cũng chả thay đổi được ǵ, mà thương thuyết với ông để đưa Vua và ông Thuyết về để lập lại trật tự th́ có cơ giải quyết được vấn đề của ḿnh. Nếu ông Tường không điều đ́nh được và bị Courcy giết hay đày, th́ vua và ông Thuyết sẽ tiếp tục cuộc kháng chiến cho đến thắng lợi hoặc chết, mặc dầu biết rằng hy vọng thắng lợi về dài có phần mỏng manh. Đó là một ván bài 'đánh xả lán', 'liều may rủi với trời' (Bửu Kế, Chuyện Triều Nguyễn , Nhà xuất bản Thuận Hóa Huế, 1990, 97) áp dụng câu châm ngôn 'c̣n nước th́ c̣n tát'. Kế hoạch được thực hiện đúng như các ông có thể đă dự trù, và đ̣i hỏi cả hai ông đều phải hy sinh để thực hiện những ǵ mà người kẻ sĩ phải làm, không cần biết đến hậu quả cho bản thân ḿnh.

Khuya đêm 4-7-1885, ông Thuyết ngầm chia quân làm hai đạo gồm những phần tử thân tín, Phấn Nghĩa quân, môt đạo do em là Tôn Thất Lệ chỉ huy đánh úp ṭa Khâm sứ, một đạo do chính ḿnh cùng Trần Xuân Soạn bất thần tấn công Trấn B́nh Đài [Mang Cá]. ( ĐNTL, XXXVI , 220) Nghe súng nỗ đền đài sụp đỗ, NVT vội vào cung

'tâu vua và Tam Cung xin ra ngoài thành, ủy cho quan hầu hộ giá lên Chùa Thiên Mụ tạm trú '. C̣n NVT th́ ' lập tức lên Giám mục Lộc tại nhà thờ Xă Kim Long, nhờ Giám Mục viết thơ nói với Ṭa rằng việc ấy do Tôn Thất Thuyết làm quấy, chớ thiểm và đ́nh thần bổn quốc không có ư ǵ khác, xin quan Toàn quyền và quan Khâm sứ châm chước thế nào để bảo tồn sự ḥa hảo trước. Khi 7 giờ sáng mượn người đem thơ đến sứ quán, thiểm ở lại nhà Thờ để đợi. V́ lúc đó hai bên đương bắn nhau nên đến 12 giờ trưa thơ ấy mới đến Sứ quán. Đến 3 giờ chiều mới được phúc thơ của quan Khâm sứ nói rằng nên rước Hoàng Đế về sẽ được ḥa hảo không có ngại ǵ. Tức th́ thiểm lên chùa Thiên Mụ, th́ Ngự giá cùng Tam Cung đă bị Tôn Thất Thuyết đưa ra Tỉnh Thành Quảng Trị.' ("Thơ: Lại Bộ Thượng Thơ Nguyễn Văn Tường gởi Nguyên Soái Pháp tại Tahiti ". Tiếng Sông Hương, 1994, 127)

Câu chuyện hai ông sắp đặt chỉ giản dị như vậy. Ông Thuyết đánh không phải để thắng trân, v́ có bao nhiêu quân tham gia đâu, chỉ cốt để nhân cơ hội đưa vua và một số quan quân chống Pháp lên Tân Sở. C̣n NVT đi một ḿnh lên gặp GM Caspar để cho phía Pháp hay lập tức rằng chiến cuộc do ông Thuyết một ḿnh gây ra trái với ư muốn của triều đ́nh, và yêu cầu Pháp để ông tái lập lại trật tự. Các sử gia Pháp thường kết tội De Courcy đă không đuổi theo bắt đoàn ngự đạo, v́ họ không biết đến cái kế quyền biến của hai ông, làm cho de Courcy không c̣n lư do tiếp tục cuộc chiến sau khi nhận được sự giải bày của NVT qua GM Caspar. Trong lúc đó th́ ông Thuyết và đoàn ngự đạo an toàn đi ra và ở lại tỉnh thành Quảng Trị, bàn bạc việc ai đi hay không đi Tân Sở. Rút cục, ông Thuyết và vua cùng một số quan quân đi Tân Sở. Tam Cung và một số quan quân khác ở lại. Ít lâu sau Tam Cung trở về Huế theo lời mời của NVT. Mọi sự được xếp đặt như đă dự định. (ĐNTL, XXXVI, 220-5)

Hơn một tuần, sau khi rời khỏi kinh thành, ngày 13-7-1885, vua Hàm Nghi ra dụ Thiên hạ Cần Vương giải thích việc vua làm và kêu gọi mọi người giúp vua chống Pháp. Dụ này có thể đă do hai ông và ông phụ chính thứ 3 là Phạm Thận Duật thảo ra sẵn trước khi đánh và chạy. Văn từ trong dụ nhiều chỗ giống trong các bản tấu về kế sách của NVT dâng lên Tự Đức, và cũng dùng chữ 'quyền' [quyền biến] để mô tả việc bỏ thành của vua, như trong bài thơ 'giải trào' của NVT sẽ bàn sau. Dụ bắt đầu:

" Từ xưa kế sách chống giặc không ngoài ba điều: đánh, giữ, ḥa. Đánh th́ chưa có cơ hội, giữ th́ khó lượng được sức, ḥa th́ chúng đ̣i hỏi không biết chán. Đương lúc sự thế khó khăn như vậy, bất đắc dĩ phải dùng quyền. ..." Rồi vua giải thích thêm: "... Bọn Tây được phái đến càng ngang bức, hiện t́nh mỗi ngày một quá thêm. Hôm trước chúng tăng thêm binh thuyền đến, bắt theo những điều ḿnh không thể nào làm được; ta chiếu theo lệ thường khoản tiếp, chúng không chịu nhận một thứ ǵ. Người kinh đô náo động, mối nguy biến ngay trong chốc lát. Kẻ đại thần mưu việc nước, chăm nghĩ đến kế yên xă tắc, trong triều đ́nh phải đắn đo về hai điều: cúi đầu tuân mệnh, ngồi để mất cơ hội, sao nh́n thấy chỗ âm mưu biến động của địch mà đối phó trước? Ví bằng việc xảy ra không thể tránh, th́ cũng c̣n có việc ngày nay để mưu tốt cái lợi sau này , cũng là do thời thế xui nên vậy. Phàm những người đă được cùng dự chia mối lo này, tưởng cũng đă biết cả. ... " (Bản dịch của Chu Thiên, Thơ Văn Yêu Nước [1858-1900]. Nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, 1976, 521-3, NQT nhấn mạnh)

Như vậy là bản dụ xác nhận cái mưu kế chống Pháp nói chung và De Courcy nói riêng, như đă tŕnh bày: chiến, thủ, ḥa đều không xong, nên phải dùng xảo kế để đối phó với âm mưu đảo chánh của địch, bằng cách đánh chúng trước, để tạo ra cái t́nh trạng mới hiện tại, hầu tính kế lâu dài. Ai đă bày ra cái kế ấy? Dụ nói rơ chỉ trừ tên họ: "Kẻ đại thần mưu việc nước, chăm nghĩ đến kế yên xă tắc, trong triều đ́nh ". Số 'kẻ đại thần...' có thể bao gồm ít nhất là hai ông phụ chính và ông Duật, phụ chính thứ ba trong Viện Cơ mật đă cùng đi với ông Thuyết, và không thể không có NVT được. Tự nhiên dụ không thể nói rơ là NVT đă cùng các vị này đặt ra kế ấy, v́ lư do chiến thuật dễ hiểu là phải để ông đứng ra ngoài, để đóng vai tṛ điều đ́nh với Pháp. Tóm lại, dụ đă ám chỉ rằng cuộc chính biến mới xảy ra là kết quả của một kế hoạch chung của triều đ́nh để đối phó cấp thời với một âm mưu đảo chính do De Courcy gây ra, chứ không phải là do sự bốc đồng của ông Thuyết như sử sách thường nói.

Tính cách 'kế hoạch chung' đó càng lại được xác nhận rơ hơn với bản dụ gởi Nguyễn Văn Tường ra cùng ngày 13-7 với dụ Cần Vương mà chính sử đă lược tóm như sau:

"Y [De Courcy, NQT ct.] thấy ta ngày càng khuất, y càng ngày càng lấn, khiến triều đ́nh không c̣n mặt mũi nào, vạn bất đắc dĩ mà ta phải bỏ thành đi ra ngoài. Nay đại thần Tôn Thất Thuyết cùng ta quanh quẩn, c̣n ngươi là phụ chính đại thần th́ ở lại mà thương đàm, kẻ ở người đi đều lấy ḷng yêu nước lo dân làm căn bản. Trời đất thật cũng chứng giám , ngươi nên khéo thể tấm thịnh t́nh của tiên hoàng đối với nước láng giềng rất có thủy chung và cùng y giảng giải về lư thế, cân nhắc về lợi hại, hết ḷng thỏa hiệp, phàm những khoản ǵ bách thiết, chung nhau bàn đổi, cốt khiến cho 2 nước như anh em, vinh nhục cùng quan hệ, vui lo cùng chung nhau mười phần chân thành, không c̣n dùng đến uy thuật. Lúc này ta mạnh cho hồi loan, trên để phụng dưỡng 3 cung, dưới để yên ḷng thần dân, khanh cùng với Tôn Thất Thuyết trung trinh chói lọi, muôn thưở cùng sáng, những phường nịnh tử gian phu, đều phải lặn h́nh dấu bóng. Nam triều ta há chẳng hân hạnh ư, nước Đại Pháp chắc cũng vui vẻ mà cùng giữ lấy cường thịnh vậy. Nếu không như thế th́ miếu xă lăng tẩm và các vương công không kịp đi theo ấy th́ hết thảy ủy cho khanh. Ta duy có chọn đất lành ở, sợ trời vui trời, rường cột cương thường, cả nước cùng thế, không đâu không phải là triều đ́nh, và không phải là tôi con vậy. Trẫm quyết không cùng với họ tranh được thua vậy. T́nh thế ví lại không thôi, trẫm nguyện phái thêm cán viên, lấy đường đi khắp các nơi, nghiêm sắc cho Ninh B́nh trở về phía Bắc, bao nhiêu quan tỉnh, phủ huyện đều để ấn lại mà đi, người nào như có trung nghĩa tài lược không kể quan hay dân, đều cho được tiện nghi làm việc, cốt không phụ tấm ḷng tốt của triều đ́nh dưỡng dục, tác thành, yên được bóng thiêng liêng ở trời của liệt thánh, và đáp phó được nguyện vọng tha thiết của thần dân trong nước. Khanh nên nghĩ cho kỹ nhé, có muốn nên tấu đối, th́ gởi theo đường trạm chờ xét cũng chẳng hại ǵ." (ĐNTL, XXXVI, 226, NQT nhấn mạnh)

Tóm lại, qua dụ này, mà chắc là các ông Thuyết và Duật đă soạn theo kế hoạch đă thỏa thuận trước, vua Hàm Nghi xác nhân vua vẫn c̣n đó, chỉ tạm lánh v́ De Courcy quá áp bức, và chính thức hóa việc NVT ở lại là do sự ủy nhiêm của vua để lo thương đàm với Pháp, hầu đi đến một thỏa hiệp triều đ́nh có thể chịu đựng được, trong đó 2 bên đối xử với nhau như anh em dưới thời Tự Đức. Vua cũng nói sẵn sàng trở về sau khi NVT điều đ́nh có kết quả, không có ư định 'ăn thua đủ' với Pháp, và chỉ đánh Pháp khi việc điều đ́nh không thành, đồng thời giữ sự liên lạc. Vua thông cảm cái vai tṛ bội bạc mà NVT 'chịu nhục' phải làm nên nhấn mạnh rằng '...kẻ ở người đi đều lấy ḷng yêu dân làm căn bản. Trời đất thực cũng chứng giám...' Đồng thời, sứ mạng giúp nước, giúp vua của NVT được vua Hàm Nghi đề cao trong một bản dụ gời hoàng tộc ngày 18-7-1885, tức 5 ngày sau đó, mà chính sử tóm lược như sau:

" Dụ Thọ Xuân thân vương, phụ chính Hoài Đức công và các bọn hoàng phiên công chúa nghĩ coi: Nước Nam ta nhiều lần bị kẻ khác ức hiếp nhiều khoản, phàm có tai mắt khí huyết không ai là không uất ức buồn rầu. Chẳng riêng người trong họ ta mà thôi. Trẫm vâng di mệnh của tiên quân và các vương công phụ thần cùng suy tôn lên quyền giữ việc nước. Phàm có trăm điều đều duy kiến nghị, phải ấy th́ theo. Trẫm tuổi trẻ, kiến thức chưa rộng, dám đâu chuyên trái việc ǵ, cho nên hễ khi tiếp được thư của nước Đại Pháp gởi đến khoản ǵ, nếu quá lăng nhục và yêu sách quá đáng, nhân t́nh không thể chịu được, mật nghe vương công và các phụ chính khuyên bảo, không đâu là không cưỡng tự đau đớn nín náu, chịu theo êm việc, v́ muốn bảo toàn xă tắc, để họ mạc lâu dài hưởng tôn quí giàu sang vậy. Không ngờ sứ Pháp ngang ngược ngày thêm, không c̣n được chút quốc thể, cúi xuống đất, ngửa lên trời, xiết bao hỗ thẹn, vạn bất đắc dĩ mà phải làm ra việc này, quay nh́n nơi lăng miếu và các bậc ư thân, thực không biết bao nhiêu là tưởng nhớ, chả biết trong tôn tộc từng có tin đến sự lo xuôi nghĩ ngược của ta không? Nay đă có phụ chính huân thần là Nguyễn Khanh [NVT, NQT ct.] ở lại giảng nói. Che chở nhiều việc, hơi được yên ổn, huân thần tâm sự như thế, cáng đáng như thế, thực là đau khổ quá chừng. [] Nhân vật nước ta, những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được. Trẫm cũng dụ cho đại thần ấy hết ḷng bàn tính công việc, tâu chờ quyết định. Vương công đều là cốt nhục chí thân, đều nên thương ta khổ tâm thể tất ta vô cùng. Phàm việc ǵ cùng với Nguyễn Khanh châm chước thỏa đáng, cốt không trái với cương thường của trời đất. Nên được nền b́nh trị lâu dài của quốc gia, ngỏ hầu để được tiếng thơm muôn đời, thế là lành lắm tốt lắm. Trời đất dài lâu, gặp nhau có hẹn. Nước nhà suy thịnh gặp hội đổi thay, càng nên trân trọng di dưỡng, để yên tấm ḷng xa của người tuổi trẻ. C̣n ra sẽ ủy cho Nguyễn Khanh sẽ v́ ư thân điều đ́nh cho thỏa đáng, vụ được như thường. Phàm người họ ta, cần tin lời ta nhé, thế th́ ta mới yên ḷng." (ĐNTL, XXXVI, 227-8, NQT nhấn mạnh) Tóm lại, dụ này gởi cho hoàng tộc đại ư cũng giống 2 dụ Cần Vương và gởi NVT nói trên, nhưng c̣n chia xẽ nỗi khổ tâm của NVT qua những câu :"huân thần tâm sự như thế, cáng đáng như thế, thực là đau khổ quá chừng. []... những người trung nghĩa từ xưa, tưởng không hơn được. "

Sở dĩ toàn bộ nguyên văn của 2 dụ vừa nói được trích dẫn là v́ 2 tài liệu này không thấy được các sử gia ta trước 1975 đề cập đến mặc dầu họ đều nói là có tham khảo Đại Nam Thực Lục . LM Delvaux có trích dịch dụ Hàm Nghi gởi NVT trong bài viết đă nói năm 1941, (" Quelques précisions ..." BAVH, số 3, 1941, 269-270) nhưng không cho biết xuất xứ, và cũng chẳng bàn tán ǵ. Trong sử sách Pháp, không thấy ai biết đến 2 dụ đó, ngay cả sử gia Fourniau trong một cuốn sử đầy đủ, cập nhật, và tương đối vô tư và khách quan nhất về bang giao Pháp Việt mới xuất bản năm 2002. Gần đây, một số sử gia ta ở ngoại quốc có đả đông đến vài đoạn trong 2 dụ, nhưng cũng chả bàn tán ǵ bao nhiêu về ư nghĩa của các tài liệu đặc biệt này. Sự thiếu sót vô t́nh hay cố ư các tài liệu gốc căn bản như những tài liệu này đă đưa đến quá nhiều sai lạc trong các sử sách viết về cuộc bang giao Pháp Việt.

Thêm vào các tài liệu gốc đó, có thể kể đến một bài thơ của chính NVT bày tỏ nỗi băn khoăn của ông lúc từ Kim Long trở lại Huế, mà 4 câu sau đă được Trần Trọng Kim ghi chép trong một cuốn sử xưa ờ bậc sơ học. Bài thơ này ăn khớp với kế hoạch 'kẻ ở người đi đều chung lo việc nước' đă được tác giả Trần Xuân An tŕnh bày trong một hội nghị mới đây ở Huế: ("Nguyễn Văn Tường với nhiệm vụ lịch sử sau ngày kinh đô quật khởi [5.7.1885]", HTNVTHUE02, 59-82)

GIẢI TRIỀU
Tam thập niên lai phí kỷ kinh
Vô đoan dạ bán bách sầu sinh
Kỷ thai tam sắc, vân lôi biến
Giả thích song suy, kê khuyển kinh
Thương kính vạn trùng thương thúy liễn
Thần tâm nhất dạng luyến đan đ́nh
Thị phi nhiêu phó thiên thu hậu
Xă tắc quân vương thục trọng khinh?

CHIA TÁCH TRIỀU CHÍNH
Ba chục năm qua phí trí ḿnh
Nửa đêm, gian tả! ép buồn sinh
Cờ chia ba khoảnh, giông quyền biến
Kẹp siết theo roi, chó hải kinh
Núi biếc vạn trùng lo kiệu ngự
Ḷng son một dạng luyến sân Đ́nh
Phải chăng, ấy gởi ngh́n thu luận
Theo nước pḥ vua đâu trọng khinh?

Hai câu bổ sung:
CHIA TÁCH TRIỀU CHÍNH...

U trung thùy bạch thiên thu hậu?
Xă tắc quân dân thục trọng khinh?

Sâu kín ḷng trung ai soi tỏ?
Tổ quốc, dân, vua đâu trọng khinh?
(Ibid., 59)

Một sử gia Pháp, mặc dầu không biết ǵ nhiều về các nguồn tài liệu này về phía Việt Nam, cũng đă thoáng cảm thấy t́nh trạng lưỡng phân triều chính đó. Sau khi ông thấy mọi sự xảy ra trong cuộc rờI bỏ kinh thành như là một sự sắp đặt của phía Viêt Nam, ông kết luận:

"... giai cấp cai trị Viêt Nam có vẻ t́m một giải pháp trong hai đường hướng đối nghịch với nhau, nhưng mỗi cái đều nhằm bảo vệ, ít nhất là trong trường kỳ, sự đồng nhứt quốc gia: chiến đấu bằng cách kêu gọi một cuộc tổng nổi dậy hay là qui thuận để ǵn giữ những ǵ tối thiết. Mọi việc đă xảy ra như là ngày 9-7, triều đ́nh, trên cả mọi sự đối nghịch, đă mặc nhiên với ít nhiều ư thức, chia xẽ các hiểm nguy để có thể theo đuổi hai bối cảnh..." (Fourniau, Annam, 35).

Ngoài ra, c̣n có một số tài liệu rải rác khác tương hợp với kế hoạch chia cách triều chính nói trên, do Tiến sĩ Đỗ Bang tŕnh bày trong Hội Nghị 2-7-2002 vừa nói. ("Góp phần làm sáng tỏ những uẩn khúc trong cuộc đời của nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Tường [1824-1886]", HTNVTHUE02, 20-41). Căn cứ vào một số tư liệu đầu tay như 'Hạnh Thục Ca' và một bài dụ của Bà Từ Dụ trong đó bà chỉ thị cho NVT điều đ́nh với Pháp, vè 'Dậu Tuất niên giang phong hỏa kư sự ' cho rằng việc đánh Pháp đêm 4-7-1885 là có sự bàn bạc và phân công giữa NVT và Tôn Thất Thuyết, bức thư của NVT gởi Nguyên soái Tahiti kể lại cuộc di tản vua và Tam Cung và gặp GM Caspar, cũng như gia phả gia đ́nh NVT, [t.35-7] TS Bang đă kết luận rằng: "Với những tư liệu minh chứng này, Nguyễn Văn Tường không những được minh oan về tội 'đầu thú, quy hàng' mà ông vẫn được xem như là một trong những nhân vật hoạt động yêu nước tích cực nhứt cho đến thời điểm xảy ra cuộc tâp kích quân Pháp ... (Ibid., 37) Trước đó, sau khi phân tích 2 bản dụ nói trên của vua Hàm Nghi và dụ của Đức Từ Dụ chỉ thị cho NVT thương thuyết, TS Bang cũng có nhận xét:

"Rơ ràng việc Nguyễn Văn Tường ở lại Huế là một sứ mạng nguy hiểm, phức tạp được vua Hàm Nghi và Thái hoàng Thái hậu Từ Dũ là 2 người chịu trách nhiệm tối cao của Triều đ́nh Huế hồi bấy giờ giao phó. Đó cũng là một sách lược chính trị tích cực 'Chia tách triều đ́nh' trong một t́nh thế nguy nan chưa từng có, với một hy vọng bảo tồn được kinh đô, tôn miếu, xă tắc và khôi phục chủ quyền của đất nước. " (Ibid., 35, NQT nhấn mạnh)

B. Quyết tâm tiêu diệt phe kháng chiến của thực dân Pháp

Đại tướng De Courcy đă được đề cử với toàn quyền quân sự và dân sự, trực thuộc bộ Chiến tranh về các vấn đề quân sự, và bô Ngoại giao về các vấn đề chính trị ngoại giao. Các tác giả Pháp thời đó đă mô tả ông như là một nhà độc tài vơ biền, không biết một tí ǵ về chính trị. Theo đại úy Gosselin, " Đại tướng có cái lỗi lầm to lớn nhất ...là không biết ǵ hết về nước An-Nam. Ông biểu lộ một sự khinh bỉ rất sâu đậm đối với cái tính chất a-na-mít, không tin rằng các quan có khả năng làm được một việc ǵ nên chuyện, và rút cục tưởng rằng đoàn tùy tùng hùng mạnh của ông đủ để làm cho các phụ chính, triều đ́nh và dân chúng phải khiếp đảm. Hơn nữa, bản tính ông rất hay nghi ngờ, không chịu nghe một lời khuyên nào, không chấp nhận một ư kiến nào, và không muốn nghe các tin tức do các người từng trải ở địa phương cố gắng cung cấp, như GM Caspar và ông De Champeaux." (Gosselin, op. cit., 203, do Devillers dẫn, op. cit., 285, NQT dịch). Tướng Prud'homme cũng xác nhận rằng de Courcy " không thoát khỏi tính đa nghi, không những đối với những sĩ quan cọng sự với ông đă được tuyển chọn t́nh cờ trước khi ông rời nước Pháp, mà c̣n nhứt là đối với các viên chức hành chánh mà ông gặp đang tại chức khi ông đến Đông dương." (Prud'homme [X], L'Annam du 5 Juillet 1885 au 4 Avril 1886 , par le général X, 1901, 10, do Devillers dẫn, op. cit., 285). Tất cả những yếu tố đó trong bản ngă De Courcy đă làm tan rả kế hoạch 'một triều lưỡng phân nhưng nhứt dạng' của phía Việt Nam. De Courcy đă bắt đày NVT đi Côn đảo sau hai tháng giam giữ, khai thác, và dày ṿ ông. Từ Côn đảo, Chính phủ Pháp đày NVT sang Tahiti, và ông từ trần ít lâu sau khi đến đây. Đó là sự hy sinh của cá nhân NVT, nhưng đứng về phương diện quyền lợi của quốc gia dân tộc, vua Hàm Nghi vẫn tiếp tục công cuộc kháng chiến theo như kế hoạch dài hạn mà NVT cùng Tôn Thất Thuyết và các triều thần chống Pháp đă dự trù. Nước Pháp đă mất biết bao nhiêu nhân mạng, tài sản cho công cuộc chiếm đóng, b́nh, định, cai trị trong hận thù, măi cho đến 1954 khi bị tống khứ bằng vơ lực ra khỏi Việt Nam, v́ đă bỏ lỡ cơ hội đi với giải pháp NVT. De Courcy từ Hà Nội vào, đinh ninh sẽ giải quyết vấn đề dễ như trở bàn tay, đă bị 'quyền biến' của NVT hóa giải sau vài ngày đến Huế.

Trưóc t́nh h́nh rối lọan của kinh thành do sự 'phổng tay trên' của ông Thuyết, de Courcy đành miễn cưỡng chấp nhận đề nghị hợp tác của NVT theo khuyến cáo của GM Caspar và Khâm sứ de Champeaux. Nhưng muốn ăn chắc, de Courcy đối xử với NVT như một tù nhân bị giam lỏng ở Thương bạc và đặt dưới sự canh gác của sĩ quan tùy viên của y là Đại-úy Schmitz và một toán quân Pháp (Gosselin, op. cit., 211), và hạn cho NVT 2 tháng để văn hồi trật tự, với tư cách là viện trưởng Hội đồng Cơ mật dưới quyền điều khiển của y và de Champeaux. Như sử gia Nguyễn Thế Anh đă nói, " Thật là một t́nh trạng không có lối thoát cho ông Tường, bởi v́, tù binh về thực tế của Pháp, những mệnh lệnh của ông đưa ra sẽ không có một hiệu lực ǵ, v́ sẽ được xem một cách chính đáng như là làm theo chỉ thị của người Pháp." (Anh, op. cit., 112). Ngày 6-7-1885, y cùng NVT kư một tuyên cáo kêu gọi dân chúng, tố cáo ông Thuyết và mời vua và Thái hoàng Thái hậu trở về Kinh đô (Điện văn của Courcy gởi bộ Chiến tranh 6-7-1885, J.O., do Fourniau dẫn, Vietnam , 402). Rồi một tuyên ngôn được gởi đi các địa phương giải tán quân đội chính qui, chỉ giữ lại lính lệ ở các tỉnh và phủ huyện, cùng các lực lượng cảnh vệ ở các tỉnh lỵ. (A.E., Hồi kư và tư liệu, Á châu , tập 47, fo 38, do Anh dẫn, op. cit., 112). Bất chấp Hiệp ước Bảo hộ 1884, ông đề nghị với chính phủ Pháp truất phế triều đại nhà Nguyễn và sát nhập An-Nam vào nước Pháp. Nhưng Paris không chấp nhận và chỉ thị phải lập lại triều chính như trước. (A.E., Hồi kư và tư liệu, Á châu , tập 103, non fol. [thơ 11-7-1885], do Anh dẫn, op. cit., 113).

Ngày 11-7-1885, triều đ́nh được y cải tổ: Thọ Xuân Vương, chú vua Tự Đức, lớn tuổi nhất trong hoàng tộc, được cử làm phụ chính duy nhất, đại diện cho vua cho đến lúc vua về, NVT giữ chức Viện trưởng viện Cơ mật, với một số thượng thư trong đó có de Champeaux coi bộ Binh thay mặt cho de Courcy. (A.E., Hồi Kư và tư liệu Á châu op. cit., 114). Trong lúc Tam Cung và các hoàng thân công chúa lần lượt trở về, th́ vua vẫn biệt tăm, và cuộc nổi dậy của dân chúng theo lời kêu gọi Cần Vương xảy ra nhiều nơi, kèm theo các cuộc tàn sát giáo dân.

Mặc dầu vậy, de Courcy vẫn quả quyết với Paris rằng bỏ Bắc Kỳ để chiếm cứ Trung Kỳ sẽ có lợi cho nước Pháp hơn, v́ xứ này, theo y, nếu cai trị hay, sẽ trở thành một thuộc địa quí giá hơn. ( A.E., Hồi kư và tư liệu Á châu, tập 47, fo 94-96, do Anh dẫn, op. cit., 114). Nhưng Chính phủ Pháp không chấp nhận quan điểm này và chỉ thị cho y phải phải hoăn lại tất cả các cuộc hành quân ở Trung Kỳ, và từ chối gởi thêm viện binh mà y đ̣i hỏi. (Anh, op. cit., 114). Mặc dầu vậy, vào cuối tháng 7, de Courcy vẫn cố áp đặt một chế độ thuộc địa về thực tế vào xứ An-Nam bằng một dự án thỏa hiệp bổ túc cho Hiệp ước 1884. (A.N.S.O.M., Indochine A.F., 18/A 30 [73], do Anh dẫn, op. cit., 115) Với sự thay đổi cơ cấu này, NVT vẫn giữ chức Viện trưởng Cơ mật, nhưng có Nguyễn Hữu Đô làm đệ nhứt Phó viện trưởng, và Phan Đ́nh B́nh đệ nhị Phó viện trưởng; Khâm sứ có quyền triệu tập và chủ tọa Hội đồng Cơ mật bất kỳ lúc nào; và kiểm soát viên Pháp sẽ được đặt bên cạnh thượng thư bộ tài chánh và ngoại giao. (Anh, op. cit., 115) Đây là lúc Silvestre, một thành viên ṇng cốt của ' phe Hà Nội' đă được de Courcy đưa vào Huế làm chung với de Champeaux. Chính Silvestre đă thảo ra dự án thỏa hiệp bổ túc và đưa các con cờ của ḿnh là 2 ông Độ và B́nh vào viện Cơ mật. Có 2 ông này rồi, nhưng c̣n thiếu người thay vua Hàm Nghi. Như đă nói, 'phe Hà Nội' từ 1884 đă nhắm Hoàng tử Chánh Mông. Bây giờ Silvestre, qua tay ông Độ, vận đông cho ông Chánh Mông lên ngôi là vua Đồng Khánh, tức là cờ đủ bộ. (Devillers, op. cit. 281-4, 294-5, 303-6) De Courcy đă nhứt quyết chọn giải pháp dùng bù nh́n, cho rằng phe kháng chiến Cần Vương chẳng có ǵ đáng kể. Đồng thời, trong thời gian này, Đức Cha Puginier cũng gởi cho de Courcy 3 bức thư dài ngày 17-7, 20-7, và 25-8-1885, khẩn khoản, van nài, và thúc dục de Courcy loại trừ NVT. (Dupuis, Jean, Le Tonkin de 1872 à 1886, Paris, A. Challamel, 1910, 545-559). Quyết định diệt trừ NVT đă được Gosselin mô tả như sau:

" ...chắc chắn là bị Silvestre chi phối, Ông [Courcy, NQT ct.] qui trách nhiệm cho NVT về những cuộc tàn sát giáo dân ...theo ông th́ trong hai tháng qua, Tường đă không thu hoạch được một kết quả ǵ trong lănh vực b́nh định. Trái lại, cuộc nổi loạn đă lan ra trong khắp mọi tỉnh. Người ta đă mất dấu vết của ông Thuyết và vua, và hy vọng bắt được họ...giảm dần. Courcy c̣n nghi ngờ Tường mật thông với phe phiến loạn, và cung cấp ngay cả tin tức thất thiệt cho bên bảo hộ. Tất cả việc đó không đúng lắm, nhưng Courcy như muốn bằng cách đó, che đậy sự thất bại của chính ḿnh.[ ] ông quyết định loại bỏ Tường và cho bắt Tường sau thời hạn 2 tháng mà ông đă dành cho, 'Tôi dẹp tên Tường bất chấp sự can thiệp gắt gao của Champeaux'. Ông này cho rằng Tường c̣n có khả năng để thực hiện những ǵ người ta chờ đợi ở y, cho nên chống lại quyết định của Courcy, và được Giám mục Caspar ủng hộ. Đức Cha thật t́nh này nĩ ông Đại Tướng, nhân danh quyền lợi của nước Pháp, thu hồi lại quyết định đó. Tuy nhiên, Courcy ... không chấp nhận một lời khuyên nhủ nào hết. Cho nên Tường đă bị bắt ngày 6 tháng 9, giam ở Huế, và người ta ra lệnh tịch thu tất cả gia sản của ông. Champeaux giận dữ, đưa đơn từ chức. " (Gosselin, op. cit., 218, do Devillers dẫn, op. cit. 302-3; NQT dịch). Theo chính sử th́ "... Hôm ấy đem Văn Tường đến cửa biển Thuận An. Buổi chiều Nguyễn Hữu Độ, Phan Đ́nh B́nh đi tàu thủy Pháp cũng về đến cửa biển ấy ..." (ĐNTL, XXXVI , 247) Phe Silvestre lên, với vua Đồng Khánh và các ông Độ, B́nh làm cho t́nh trạng càng thêm tồi tệ hơn nhiều. (Devillers, op. cit., 308) Thấy không cứu văn được t́nh thế, Khâm sứ de Champeaux gởi thẳng đơn từ chức về Paris. Silvestre, vài tháng sau cũng bị Courcy cách chức. Tướng Warnet, Tham mưu trưởng cũng không chịu nổi de Courcy, và xin được triệu hồi. Trên đường về, khi ghé Sài g̣n Warnet được điện tín Paris bảo nán lại xử lư thường vụ thay de Courcy, v́ chính ông này cũng bị triệu hồi luôn. (Devillers, op. cit., 303, 309, 315, passim). V́ sao? Môt sử gia Pháp đă trả lời như sau:

"Về mọi phương diện, ông [de Courcy; NQT ct.] đă đi ngược với chính phủ và không cung cấp cho chính phủ một yếu tố ǵ thuận lợi trong cuộc đấu tranh tại Quốc hội Pháp hầu trấn an phe chống 'Bắc Kỳ', đồng thời tiếp tục cuộc chinh phục. Báo chí Paris quyết liệt tố cáo ông như là một 'tên trơ trụi [pelé], ghẻ lỡ nguyên nhân của mọi tai vạ [...] một tên cộc cằn hy sinh quyền lợi tổ quốc cho tham vọng cá nhân của hắn'... Ngày 15-1-1886, Tướng de Courcy được triệu hồi để nhường chỗ cho phe dân sự. Sự mỉa mai của lịch sử đă muốn rằng một đồng nghiệp của ông là Tướng Boulanger thi hành lệnh này, làm cho de Courcy không khuây khỏa được. Ông mất hai năm sau khi trở về. " (Fourniau, Vietnam , 403, NQT dịch).

C. Hai tháng quyền biến của Nguyễn Văn Tường

Thương thảo với một ông tướng chỉ tin vào sức mạnh của vũ khí mà không biết một tí ǵ về chính trị, NVT đă ở vào một cái thế bội phần phức tạp, khó khăn và nguy hiểm. Chẳng hạn, buộc NVT đưa vua Hàm Nghi về mà không cho liên lạc với phe 'phiến loạn' tức phe Tôn Thất Thuyết, th́ làm sao mà thực hiện được việc ǵ. Đối xử với NVT như tù binh để sai khiến và lợi dụng danh nghĩa, th́ làm sao ông Thuyết, và ngay cả NVT, dám để cho vua về. Quân đội chính qui th́ bị giải tán liền, bộ Binh th́ do de Champeaux nắm giữ. Ngay chính Khâm sứ Champeaux đă nhận thấy t́nh trạng bế tắc của NVT cho nên, khi NVT bị bắt, đă chứng minh cho Courcy thấy rằng một lư do quan trọng NVT không đem lại trật tự như ư muốn là v́ t́nh trạng 'cô lập bị giam giữ của ông' [l'isolement dans lequel il avait été tenu], và cần phải dành cho ông thêm một ít tự do hành đông bằng cách 'vừa theo dơi ông nhưng không cản trỡ ông' ['tout en le surveillant mais sans le contrecarrer '] (Prud'homme, op. cit., 42, do Devillers dẫn, op. cit. , 305; NQT dịch).

Bác sĩ de Lanessan, dân biểu hạt Seine, đă từng phục vụ ở Phi châu và ở Nam kỳ với tư cách là y sĩ hải quân và về sau làm Toàn quyền Đông dương từ 1891 đến 1896, tin tưởng rằng chính sách của Champeaux, nhằm phục hồi một chế đô bảo hộ thành thực, như chế độ trước ngày thất thủ kinh đô 4-7-1885 với sự hợp tác của NVT, chắc chắn sẽ đă đưa đến một nền ḥa b́nh thật sự lúc đó. Nhưng de Lanessan, người đă biết rất rơ NVT dùng Tàu đánh Pháp, không quên nhấn mạnh cái điều kiện tất yếu cho sự thành công đó là phải làm sao " cho dân chúng Việt Nam tin tưởng thực sự ở quyết định của chúng ta là không xâm chiếm Trung Kỳ và ngay cả Bắc Kỳ, và hài ḷng với một nền bảo hộ tôn trọng các định chế quốc gia Việt Nam. Vả lại, nền bảo hộ đó, nước An Nam đă vui ḷng chấp nhận nó, như sự yên tĩnh, mà xứ này hưởng thụ trước ngày 5-7-1885, đă chứng minh." (Lanessan, L'Indo-Chine francaise. Paris, Germer Baillière, 1889, 688).

Thay v́ áp dụng chánh sách cởi mở của Lanessan, Courcy đă đưa tay sai nắm các chức vụ then chốt trong triều và buộc triều đ́nh phải tận diệt phe kháng chiến, tức phe ông Thuyết đang cầm đầu mà chính NVT, về bề mặt, đă phải phủ nhận. V́ vậy, sử gia cần thông cảm với t́nh trạng khó khăn 'mở miệng mắc quai' của NVT và phân tích các hành vi của ông, hoặc được gán cho ông, trong thời gian 2 tháng bị giam cầm sau ngày thất thủ kinh đô, như là những hành vi chiến thuật giai đoạn trong khung khổ sách lược chống Pháp dài hạn của ông. Không thể qui trách nhiệm cho ông về cái chết của các chiến sĩ Cần Vương Lê Trung Đ́nh và Nguyễn Hữu Tạo ở Quảng Ngăi, chẳng hạn, trong khi quan địa phương đă giết các ông này rồi mới báo cáo sau. ( ĐNTL, XXXVI , 239) Vả lại bộ Binh đă do Khâm sứ nắm giữ và quân sĩ do Pháp điều khiển, và NVT th́ bị cô lập ở Thương bạc với một đoàn lính gác Pháp như đă nói trên. Về việc NVT bị tố cáo là đă ra lệnh bắt vua Hàm Nghi và ông Thuyết, th́ ta thấy thực tế xảy ra như thế nào? Lúc vua và Tam Cung c̣n ở Quảng Trị th́ "Văn Tường ủy cho ... Phạm Hữu Dụng ... đem hiện t́nh bàn với Thuyết tâu vua biết ... [Thuyết ... dặn Hữu Dụng về báo với Văn Tường, phải nên đoàn kết với Pháp, không lại lấn áp như trước, th́ mới đón xe vua về ]". (ĐNTL, XXXVI , 223; NQT nhấn mạnh) Vậy rơ ràng là 2 ông phụ chánh làm theo một kế hoạch chung như đă nói, chớ có chống báng ǵ nhau đâu: ông Thuyết nói rằng nếu NVT thương thuyết được việc Pháp không lấn áp nữa th́ sẵn sàng đưa vua về. Mặt khác, lệnh ra khi nào cũng bảo 'rước vua về', tức không được buộc vua về nếu vua không muốn, và không được làm ǵ nguy hại đến tính mạng của vua. Ông Thuyết ở bên cạnh vua th́ làm sao bắt, hay giết ông mà không nguy hại đến tính mạng vua được. Hơn nữa, c̣n sự hiểu ngầm, và lệnh ngầm trong việc thi hành các chỉ thị, nếu viên chức thừa hành cũng hướng về phe Cần Vương.

Một hai chuyện do chính sử kể có thể chứng minh sự phối hợp giữa 2 bên triều đ́nh và Cần Vương, thay v́ đánh giết nhau thật sự: " Ngày nhâm ngọ, xa giá xe vua đến sách Bờ Cạn ... Quan quân trông thấy xe vua [Thuyết phụng xe vua lộ ra] không dám bắn súng, chợt bị đạo quân Trần Xuân Soạn chắn ngang tản đi, khi ấy đạo quân Thuyết gián hữu có quân tỉnh Hà Tĩnh và lính Thổ Ninh B́nh ... Lấy Tham tri là Nguyễn Thành Ư, ... Tôn Thất Phan, biện lư ...Vơ Khoa sung làm khâm sai, chia đi các tỉnh ... Chia đường để rước vua về." (ĐNTL, XXXVI , 234-5). Một trường hợp khác: " Xe vua đến Hàm Thao ... Khâm sai Tôn Thất Phan đem 350 tên lính ở Hà Tĩnh ... đi họp với pḥng thần đợi rước xe vua về sơn pḥng. Nghe truyền ngôn có quân Pháp lại, Thuyết liền ép xe vua đi nơi khác, bèn không rước được ...(ĐNTL XXXVI , 243) Một điểm đáng lưu ư thêm ở đây là các quan đi bắt đều có làm việc chung quen biết hoặc thân thiết với ông Thuyết. Đặc biệt, ông Tôn Thất Phan với ông Thuyết c̣n là bạn thân, con gái của 2 ông đều lấy ông Nguyễn Thượng Hiền. (Tôn Thất Hào, " Chiêu tuyết Kỳ vĩ Quận công Nguyễn Văn Tường ", Kỷ yếu hội nghị khoa học, Nhóm chủ chiến trong triều đ́nh Huế và Nguyễn Văn Tường, ĐHSP TPHCM 1996, 86). Tưởng bấy nhiêu ví dụ cũng tạm đủ để chứng minh sự phối hợp giữa 2 ông Phụ chính trong một t́nh trạng rất nguy hiểm và phức tạp.

D. Uẩn khúc của Nguyễn Văn Tường

Dù sao đi nữa, NVT đă rất khổ tâm phải làm những việc đă làm, hoặc gánh chiu những việc người khác làm mà ḿnh phải chịu tiếng. Thời cơ thuận lợi chưa thấy ló dạng, viễn ảnh điều đ́nh với một chính khách Pháp hiểu biết hơn để đưa đến một hoà ước đôi bên chấp nhận được, hầu tránh một cuộc chiến dai dẳng, c̣n rất xa vời. Trước cảnh đỗ nát của kinh thành, NVT đă không cầm được nước mắt khi thấy hồ sơ của hầu hết các bộ, viện, tàng thơ viện, quốc sử quán và quốc gia ấn quán bị thiêu hủy, và các các chữ nho in rời mất hết. (Chesneaux, Jean, Contribution à l'histoire de la nation vietnamienne . Paris, Éditions sociales, 1955, 134). Khoảng tháng 3 năm 1886, trên một ḥn đảo xa xôi ở Thái b́nh Dương, có lẻ cảm thấy ḿnh sắp ĺa trần v́ bệnh ung thư ở cổ (BS. Bùi Minh Đức, " Phụ chánh đại thần Nguyễn Văn Tường: một bệnh nhân tai mũi họng ", Y Tế Nguyệt san, số 2, 2002, 15-19), NVT đă gởi Nguyên Soái Pháp tại Tahiti một bức thư, mong gởi gắm tấm ḷng ḿnh cho thiên cổ:

"... Sáng ngày 28 tiếp, một ông quan ba đến chỗ thiểm trú nói rằng quan Toàn quyền sức biểu ông Phạm Thận Duật, Tôn Thất Đính [Cha Tôn Thất Thuyết] và thiểm xuống tàu thủy. Thiểm hỏi đi có việc chi th́ ông quan ba nói là do lệnh trên, không nói rơ. Chúng tôi theo xuống tàu tưởng qua ṭa sứ hội thương việc ǵ thôi, không ngờ ông ấy mở máy đi thẳng xuống cửa Thuận An mà ra biển đem lên tàu lớn, đưa thẳng đến Côn lôn... giam chấp. Đi lần này thật không ngờ, Tam Cung, đ́nh thần và gia quyến thiểm đều không hay biết. Thiểm đă làm việc ǵ mà ra đi không tiền bạc, áo xống không kịp đem theo, đói khổ hàng tuần, tưởng là khó sống. Quan Toàn quyền là một đại thần của nước Đại Pháp, phàm làm việc ǵ tưởng cũng minh chánh ... Thiểm đă ĺa nhà trong 34 năm, lo cho nước không thành được một việc, nay tuổi đă 64, c̣n sống được bao lâu nữa mà c̣n danh lợi ǵ đáng tham, duy một ḷng ái quốc canh cánh bên ḿnh, cho nên đeo đuổi theo quí quốc hợp lực đồ duy may thành đại cuộc th́ cũng bổ ích cho bổn quốc trong muôn một, ấy là chỗ khổ tâm của thiểm. Ngày nay vô cớ gặp sự không may, vạn nhất bất thành, không thu được hài cốt th́ đă mang tội bất trung với nước mà cũng bất hiếu với nhà. Ấy là chỗ đau đớn riêng của thiểm. ..." (Tiểu-Cao Nguyễn Văn Mại, LÔ-GIANG Tiểu Sử , Nguyễn Hy Xước phụng dịch, 1961, t. 42-44; NQT nhấn mạnh).

Lịch sử Côn Đảo có ghi nhận sự hiện diện của 3 ông Tường, Duật, và Đính trong vài tuần trên đường quá giang đi Tahiti, và của ông Lă Xuân Oai, một vị quan đă theo vua Hàm Nghi. (Demariaux, Maurice, Poulo-Condore, Archipel du Vietnam. Paris, Harmattan, 1999, 30-1) Ngày nay, 116 năm sau ngày NVT từ trần, trong môt hội thảo năm 2002 tại Huế, nơi NVT phục vụ gần suốt cuộc đời hoạn lộ, học giả Hăn Nguyên Nguyễn Nhă, sau khi phân tích sâu rộng toàn thể quá tŕnh hoạt đông của NVT, đă cảm thông cái "số phận oan nghiệt " của ông cũng như của Phan Thanh Giản, và nhận xét rằng "Trung nghĩa với vua, với nước, hy sinh mạng sống của ḿnh, chết trong tay kẻ thù th́ xưa nay đúng là có nhiều, song có ai hơn khi chết v́ nước như vậy mà rồi vẫn cam nhận là kẻ đầu thú! " Rồi tác giả kết luận:" Song lịch sử lại rất công minh, qua thời gian sẽ không bị lầm lẫn như người đương thời. Lịch sử chính là "Hoàng Thiên Hậu Thổ' soi xét cho tâm sự khổ đau của liệt sĩ yêu nước Nguyễn Văn Tường như lời trong thư vua Hàm Nghi đă gửi cho Nguyễn Văn Tường vậy!" ("Công-tội, vị trí của Nguyễn Văn Tường trong nhóm chủ chiến ở triều đ́nh Huế nửa sau thế kỳ XIX ", HTNVTHUE02, 136).

Không đợi đến hơn một thế kỷ sau, ngay thời đó, Jules Boissière [1863-1897], Phó công sứ Quảng Yên và nhân viên văn pḥng Toàn quyền de Lanessan ở Bắc Kỳ từ 1886 đến 1897, đă hiểu NVT và cho ông là sản phẩm lư tưởng của nền giáo dục dân chủ truyền thống của Việt Nam. Boissière, một nhà thơ và một đại văn hào (Fourniau, Vietnam , 503), có lẽ là người Pháp duy nhất đă ca ngợi NVT không tiếc lời và không một chút dè dặt. Trong cuốn, L'Indo-Chine avec les Francais ( Société des Editions Louis-Michaud, viết vào 1896, t. 70-1), Boissière, sau khi mô tả một lớp học ở thôn quê Việt Nam, gồm 20 học sinh dưới sự hướng dẫn dạy dỗ của một ông thầy đồ, đă viết:

"... Hăy nh́n trong đám trẻ này, một học sinh c̣n nghiêm trang hơn các bạn nó nữa, quần áo khá tồi tàn, nhưng cặp mắt thông minh, và vần trán rộng. Đó là Nguyên-Van Thuong [sic], con một thợ mộc thường, Thuong mà ông thầy đă đón nhận không lấy tiền thù lao v́ người cha nghèo, làm chỉ đủ nuôi các em gái và mẹ. Thật đấy! đứa trẻ này một ngày kia sẽ nổi danh trong các tiến sĩ; nó xứng đáng được vua chú ư tới v́ kiến thức sâu rộng của nó; nó sẽ cai trị các tỉnh; nó sẽ chỉ huy các quân đoàn; phụ chính, quận công, nó sẽ điều khiển chánh sách của nước An Nam và đối địch với các tướng lănh của chúng ta; một ngày kia, năm 1887 [sic], nó sẽ chết một cách oanh liệt nơi chốn lưu đày, và khi hài cốt của nó, do một tàu buồm của Pháp chở về từ Taiti [sic], được đặt trên tấm mộ gia đ́nh, tất cả những người An Nam ngay thật sẽ khóc nhà đại ái quốc [tous les honnêtes gens d'Annam pleureront le grand patriote] mà thân xác đă nghỉ ngơi dưới ḷng đất, trong lúc linh hồn nó, cùng với chiếc xe tang và đoàn tùy tùng, đă chu du qua khỏi tầng mây ..." (NQT dịch và nhấn mạnh).

 

 

*** Ảnh chụp Nguyễn Văn Tường, đă mất, trên giường bệnh do bác sĩ Chassaniol, Chánh Sở Y Tế Papeete, Tahiti, người đă săn sóc vị Phụ chánh suốt trong thời gian đau bệnh ung thư cổ, cung cấp cho Đức Cha Hermel, Tổng Giám Mục Tahiti để chuyển cho Hội Amis du Vieux Hué, theo lời thỉnh cầu của LM Adolphe Delvaux. H́nh này được lấy từ bài khảo luận của vị linh mục này: "La mort de Nguyen-Van-Tuong, Ancien Régent d'Annam". BAVH, số 4, 1923, sau trang 428. ***

Tóm lại, bài này đă dùng một số tài liệu đầu tay đặc biệt, như bản sao các tấu nghị của NVT với lời phê của vua Tự Đức trên đó, do gia đ́nh NVT lưu giữ, bức thơ NVT gởi cho Toàn quyền Tahiti lúc bị lưu đày, mà tác giả Tiểu Cao Nguyển Văn Mại, một vị đại quan dưới thời nhà Nguyễn, đă có tấm ḷng, v́ đại cuộc, sao chép lại trong Lô Giang Tiểu Sử, và những tư liệu gần như gốc là Đại Nam Thực Lục Chính biên, cùng với sách báo đă dựa nhiều vào văn khố Pháp. Qua các tài liệu gốc, nhất là các bản tấu của NVT, bài khảo luận này khám phá ra rằng, sau một thời gian chống xâm lăng Pháp một cách vô hiệu với những quyết định cục bộ, rời rạc, chiến hay ḥa, Tự Đức đă t́m ra được một sách lược chống Pháp dài hạn thích hợp, mà vua đă áp dụng một cách kiên cường với sự pḥ trợ của NVT. Thật vậy, sau khi người Pháp ‘ quỹ quyệt đă hơn mười năm nay mà triều đ́nh, trên th́ không thể xem thời xét thế, như cánh thuyền phân vân, cứ ủy suông cho chủ lo lắng, việc tự cường tự trị nói rồi lại bỏ, trù liệu th́ chằng tiến triển, không biết ḷng của kẻ bề tôi như thế nào ’ (bản tấu của NVT ngày 8-3 Tự Đức 21, 1868), Tự Đức theo đề nghị của NVT, đă cho ứng dụng sách lược ‘ḥa để mưu chiến’ để đối phó với Pháp. Thật vậy, mặc dầu phía Pháp gây sự bằng mọi cách, xâm chiếm các tỉnh miền Đông và miền Tây Nam Kỳ, rồi vùng châu thổ Bắc Kỳ, vua đă hết sức nhịn nhục, mềm dẽo, không dùng vơ lực đánh lại, mà dùng đường lối ngoại giao, ‘châm chước thời cơ’ để tạo một thế ‘ḥa để mưu chiến’ với các hiệp ước do NVT kư năm 1874.

Nhờ kế sách đó, vua đă thu hồi lại các tỉnh thành Bắc Kỳ không phải đỗ máu, và đồng thời, với sự nhượng đứt cho Pháp đất Nam Kỳ mà trong thực tế Pháp đă lấy rồi, bảo toàn được chủ quyền trên phần đất c̣n lại để thực thi chương tŕnh tự cường trong trường kỳ, như sự thành lập các sơn pḥng, nhập cảng và sản xuất vơ khí mới. Theo các hiệp ước đó, phía Việt cũng nhận được của Pháp một số tàu thủy, đại bác và súng trường để tăng cường quân lực; và được Pháp hứa giúp chống lại mọi cuộc ngoại xâm hay nội loan, và giặc biển nếu Việt Nam yêu cầu. Được rảnh tay đối với Pháp, triều đ́nh đă có thể dồn sức lực để đánh dẹp các cuộc nội loạn ở đất Bắc do giặc Tàu tràn sang, hoặc các nhóm Việt tự xưng là con nháu nhà Lê, nhà Lư gây ra. Đồng thời, triều Nguyễn cũng chế ngự được cuộc tương tàn giữa phe Công giáo và Văn thân quá khích, và khống chế được sự lộng hành của cả hai bên để xác nhận chủ quyền của nhà vua trên phần đất c̣n lại. Công tác gay go nhất trong giai đoạn này là đối phó với các đại diện Pháp như các ông Rheinart, Champeaux. Các ông này đă rất kiên tŕ trong việc lấn áp vua quan để đặt để một chế độ bảo hộ về thực tế trên Trung và Bắc Kỳ, nhưng họ không thành công. Sau khi nhận thấy sách lược ‘ḥa để mưu chiến’ được trắc nghiệm với kết quả khả quan, Tự Đức càng thêm tin nhiệm NVT và ủy cho ông 3 nhiệm vụ quan trọng nhứt là Thương bạc đại thần (ngoại giao), Thượng thư bô Hộ (tài chánh), và Cơ mật viện đại thần (việc quân quốc tối hệ). Với 3 tư cách đó, NVT đă trở thành người cố vấn thân cận nhứt của vua, và đă giúp vua thực thi sách lược kháng Pháp trong trường kỳ.

Đến 1882, Pháp lại dỡ tṛ xâm chiếm Bắc Kỳ lần nữa với Đại tá Rivière. Nhận thấy dă tâm rơ rệt của Pháp, vua Tự Đức lần này không nhẫn nhịn lâu mà kêu gọi, và được, Thiên tử Trung quốc cho quân sang giúp đánh Pháp. Ngày 9-7-1883 vua Tự Đức mất. Tự quân Dục Đức không được chính thức lên ngôi v́ đă bị Pháp mua chuộc và thiếu tư cách. Vua Hiệp Ḥa kế vị chưa được bao lâu th́ Pháp cho quân đánh phá và chiếm đóng Thuận An và ép buộc Triều đ́nh kư Hiệp ước Bảo hộ ngày 25-8-1883. Với quân Pháp đóng ở Cửa Thuận, vua Hiệp Ḥa muốn đi với Pháp cho yên và mật thông với họ để loại trừ 2 ông phụ chánh Tường và Thuyết cầm đầu phe chống Pháp. Hai ông này quật lại, truất phế vua Hiệp Ḥa, và ngày 2-12-1883 đưa hoàng tử thứ ba lên ngôi, là vua Kiến Phúc. Hai ông phụ chánh pḥ vua mới tiếp tục sách lược chống Pháp dài hạn, ‘ḥa để mưu chiến’, của vua Tự Đức đă bị gián đoạn dưới triều Hiệp Ḥa. Pháp vẫn không xâm nhập và sai khiến được Triều đ́nh chiếu theo hiệp ước 1883, v́ NVT nại là hiệp ước chưa được hai bên phê chuẩn, vả lại nó quá khắt khe và làm cho Triều đ́nh không c̣n chút uy tín để triệu hồi các quan lại ở Bắc đang theo Tàu đánh Pháp, như Pháp đă yêu cầu. Pháp sợ Việt Nam ngă theo Tàu đánh Pháp thật sự, nên hứa sẽ sửa đổi hiệp ước cho dễ thở hơn. Để sống yên với Pháp như cũ, Triều đ́nh chính thức áp dụng một đường lối 'trung lập' giữa Pháp và Tàu, nhưng trong thực tế, vẫn lơ để cho các quan quân theo Tàu đánh Pháp ở Bắc. Chính sách ‘nước đôi’ đó giúp Triều đ́nh tồn tại đến ngày kư Hiệp ước Patenôtre ngày 6-6-1884, một hiệp ước bảo hộ sọan sẵn từ bên Pháp. NVT t́m mọi cách để loại chữ bảo hộ, thay bằng chữ bảo trợ, để tránh cách áp dụng ngang ngược của Pháp, nhưng vô phương, v́ sự hậu thuẫn của Tàu đă chấm dứt tháng 5 vừa qua với Thỏa hiệp Thiên Tân, theo đó Tàu sẽ rút quân khỏi Bắc Kỳ.

'Châm chước thời cơ ', lợi dụng lúc Patenôtre đ̣i giao chiếc ấn của vua Tàu để mang về Pháp, NVT nhất thiết chỉ bằng ḷng cho tiêu hũy chiếc ấn bằng cách thụt chảy công khai trước khi kư hiệp ước. Việc đó làm nhục Tàu đến nỗi cuộc chiến tranh giữa Pháp và Tàu, thay v́ chấm dứt, đă tái diễn dữ dội hơn trước không biết bao nhiêu lần, không những trên đất Bắc Kỳ mà c̣n trên lănh thổ và biển Trung Hoa, và mỗi bên thiệt hại rất nặng nề. Trong lúc đó th́ Việt Nam kéo dài t́nh trạng 'trung lập' hay 'tọa sơn quan hỗ đấu' của ḿnh thêm được hơn một năm nữa, đến giữa năm 1885. Tháng 8 1884, sau khi vua Kiến Phúc mất, nhân danh Hiệp ước 1884, Pháp đem 750 quân đ̣i triều đ́nh phải thay vua Hàm Nghi bằng người của họ là Gia Hưng Vương, nếu không họ sẽ oanh tạc hoàng thành. NVT nhất định không chịu và cuối cùng Triều đ́nh chỉ phải làm lại lễ tấn phong vua Hàm Nghi với sự chấp thuận và tham dự của Pháp. Một sử gia tiếng tăm của Pháp ngày nay đă tỏ ư thán phục tài năng ngoại giao chống Pháp của NVT. (Devillers, op. cit., 302, ct. *)

Vào mùa xuân 1885, Pháp, nhân danh Hiệp ước Bảo hộ 1884, thành lập 2 trung đoàn lính chiến người Việt ở Bắc để đánh người Việt, bất chấp sự phản đối quyết liệt và hăm dọa cắt đứt bang giao của triều đ́nh. Đồng thời, Pháp dùng vũ lực ép buộc phía Việt phải giải giới ở kinh thành Huế, và cho lính tráng ở Mang Cá cư xử ngang ngược với người Việt. Rồi, sau khi Pháp thông báo cho Triều đ́nh biết là Tàu đă bằng ḷng rút quân theo Hiệp ước Thiên Tân 9-6-1885, Tướng De Courcy đến Huế vào đầu tháng 7, 1885, với 1.000 quân và tàu bè để tŕnh ủy nhiệm thư. Courcy cũng dự trù, bằng vũ lực nếu cần, thay thế vua Hàm Nghi và 2 phụ chánh Tường và Thuyết bằng những con bài của Pháp là Hoàng tử Chánh Mông (vua Đồng Khánh) và 2 ông Nguyễn Hữu Độ và Phan Đ́nh B́nh, theo một kế hoạch do ‘phe Hà Nội’ soạn sẵn từ năm trước. NVT và Tôn Thất Thuyết nhận thấy chỉ c̣n cách là phải dùng chính thực lực của ḿnh, là phong trào Cần Vương và các sơn pḥng, để mặc cả ngay với Pháp một hiệp ước mới tôn trọng chủ quyền của Việt Nam, hoặc tiếp tục việc chống Pháp dài hạn bằng vơ lực, măi cho đến lúc nào mặc cả được một thế ‘ḥa để mưu chiến’ mới, nếu không đánh đuổi họ được. Theo một thỏa thuận ngầm giữa hai ông, Tôn Thất Thuyết dùng quân thân tín bất ngờ đánh úp Pháp, cốt để đưa vua Hàm Nghi đi bưng. Trong lúc đó th́ NVT t́m cách liên lạc ngay với De Courcy để phủ nhận việc làm của ông Thuyết, và yêu cầu tướng Pháp để ông tái lập lại trật tự. Với mưu kế đó, hai ông đă hóa giải toan tính đảo chánh của de Courcy, và đặt Pháp trước một thế cờ mới: Vua và ông Thuyết đă thoát khỏi tầm tay của họ, và đang lănh đạo phong trào Cần Vương chống lại họ bằng một cuộc chiến dai dẳng; đồng thời vua ủy cho NVT điều đ́nh với họ, và nói sẵn sàng trở về nếu điều đ́nh có kết quả. De Courcy, thua trí, không điều đ́nh ǵ hết, vừa bắt giam NVT, vừa để ông làm v́ để lợi dụng uy tín của ông, vừa đem các ông Độ và B́nh về, và cương quyết diệt phe Cần Vương.

Sau 2 tháng, NVT bị Courcy đày đi Côn đảo, rồi Tahiti và mất ở đây vào giữa năm 1886. Ông Thuyết và vua Hàm Nghi tiếp tục cuộc kháng chiến với các chiến sĩ Cần Vương trong nhiều năm rồi bị tiêu diệt. Cuối năm 1888, vua Hàm Nghi bị bắt, và đầu năm 1889 bị đày đi Algérie. Ông Thuyết kéo dài cuộc kháng chiến cùng nhiều chiến sĩ khác, và mất vào năm 1913 ở Tàu. Công cuộc chống Pháp vẫn tiếp tục dưới nhiều h́nh thức, măi cho đến năm 1954 với trận Điện Biên Phủ, người Pháp mới thực sự chịu nhă Việt Nam.

Bài này đă tŕnh bày lịch sử đứng trên quan điểm quyền lợi của quốc gia Việt Nam, xem công cuộc chống Pháp của nhà Nguyễn và các ông Tường, Thuyết như là một giai đoạn trong quá tŕnh tranh đấu để ǵn giữ, và dành lại, độc lập cho dân tộc. Nó đi ngược lại sử sách do người thực dân nhào nặn ra ở nhiều điểm căn bản cũng như chi tiết. Chẳng hạn, vua Tự Đức không phải là một ông vua hèn nhác, chủ ḥa, và có xu hướng đầu hàng Pháp. Vua Hàm Nghi không hề có ư định trốn về theo Pháp. Giữa NVT và Tôn Thất Thuyết, không hề có mâu thuẫn ǵ với nhau trong chuyện chống Pháp. V́ vậy những chuyện nói ông Thuyết ép buộc vua Hàm Nghi 'để cái đầu lại' trước khi về; hoặc vua nhờ một vị linh mục nhắn Pháp giải phóng ngài khỏi bàn tay ông Thuyết; hoặc ông Thuyết cho người về đốt nhà NVT, v.v. đều cần phải xét lại. Ví dụ: chính ông Toàn quyền de Lanessan (op. cit., 688) đă xác nhận rằng quân đội Pháp đốt nhà của NVT mà! Những vấn đề đó, nằm trong phạm vi chiến tranh chính trị của người thực dân Pháp, mà sử gia Việt đă vô t́nh hay cố ư dùng để viết sử ta và gây ra quá nhiều sai lầm, sẽ được bàn trong một dịp khác.

 

 


*** Chân dung của Nguyễn Văn Tường ở từ đường gia đ́nh tại An Cư, Triệu Phong, Quăng Trị do hậu duệ của vị Phụ chánh là bà Nguyễn Thị Ngọc Oanh, phu nhân của nhạc sĩ Anh Việt Trần Văn Trọng, và giáo sư Nguyễn Thành Vinh cung cấp. ***

 

 

 

TXA. đính chính:

GIẢI TRIỀU
Tam thập niên lai phí kỷ kinh
Vô đoan dạ bán bách sầu sinh
Kỳ khai tam sắc, vân lôi biến
Già thính song xuy, kê khuyển kinh
Sơn kính vạn trùng thương thúy liễn
Thần tâm nhất dạng luyến đan đ́nh
Thị phi
nhiên phó thiên thu hậu
Xă tắc quân vương thục trọng khinh?